Trong tác phẩm Thịnh vượng của các Quốc gia, Adam Smith giải thích làm thế nào mà nhiều cá nhân theo đuổi lợi ích kinh tế bản thân một cách vô thức thì toàn xã hội sẽ hưởng lợi. Ông gọi đây là hoạt động của "một bàn tay vô hình", tức luật cung cầu, hai trong những khái niệm căn bản nhất của kinh tế học.
Cầu là số lượng sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) mà người tiêu dùng có thể hay muốn mua. Cung là số lượng sản phẩm mà nhà sản xuất có thể hay muốn bán. Cung cầu thay đổi theo giá. Giá càng cao, càng ít người tiêu dùng muốn hay có thể mua nhưng nhà sản xuất lại muốn bán nhiều để đạt lợi nhuận tối đa. Giá càng thấp, càng nhiều người tiêu dùng muốn hay có thể mua nhưng nhà sản xuất lại muốn bán ít vì lợi nhuận của họ bị thu hẹp. Trong thị trường tự do, mức giá mà cầu khớp với cung tại thời điểm bất kỳ được gọi là giá cân bằng.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://ins1.jocvietnam.com/news/2013/11/18/87/3xoicheTranHungDao_jpg7.jpg
Ứng xử trong gia đình
- OOP
- JSF
- Essays
- Thuật ngữ Anh-Việt
- Kỹ năng mềm
- Đường thành công
- Hướng nghiệp
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nam
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nữ
- Phép lịch sự trong gia đình
- Phép lịch sự nơi công cộng
- Phép lịch sự khi làm khách
- Kiến Thức Phổ Thông
- Kinh tế học căn bản
- Toán học trong vài phút
- Nhân liệu (Peopleware)
- Phát triển HTTT kế toán bằng MS Access
- Lập trình viên hạnh phúc
Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Cung cầu - Supply and Demand
Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Luật - Law
Sở hữu hệ thống luật pháp là một trong những thuộc tính quan trọng của một quốc gia. Nói chung luật nhằm áp dụng như nhau cho mọi công dân, và sự tồn tại của luật sẽ hạn chế quyền lực của người cai trị lên người bị trị. Chẳng hạn, trong thời Hy Lạp cổ đại, nâng cao dân trí kết hợp với truyền bá luật pháp rộng rãi đã hạn chế quyền lực cha truyền con nối của giới quý tộc, đồng thời giúp thúc đẩy dân chủ.
Ít ra trên lý thuyết, về tổng thể, luật là hiện thân của công lý và thực thi công lý - cho dù định nghĩa này không khẳng định rằng chẳng có luật nào là bất công cả. Để đảm bảo sự thực thi công lý, các thẩm phán phải trung lập, các xét xử nói chung phải công khai cho báo chí và công chúng, để công lý không chỉ được thực thi mà còn được chứng kiến là đã được thực thi.
Ở các nước phương Tây, có hai hệ thống luật chính. Luật La Mã, áp dụng rộng rãi tại Âu Châu lục địa, bắt nguồn từ thời La Mã cổ đại. Hệ thống này dựa trên các điều luật tổng quát (chẳng hạn Bộ luật Napoleon ban hành ở Pháp và nhiều quốc gia khác vào đầu thế kỷ mười chín). Nó sử dụng hệ thống thẩm tra, trong đó thẩm phán nghiên cứu vụ án và chất vấn các nhân chứng tại tòa trước khi tuyên án.
Trái lại, thông luật được áp dụng tại Hoa Kỳ, Anh, và nhiều quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung, thì không dựa trên các đạo luật được Quốc hội hay Nghị viện thông qua, mà dựa trên án lệ, trong đó lần xét xử trước đây được xem là ràng buộc cho mọi trường hợp tương tự. Tiền lệ đó chỉ có thể bị bãi bỏ bởi đạo luật hay bởi tòa án cấp cao hơn. Trong các hệ thống thông luật, tố tụng mang tính đối kháng: các luật sư mỗi bên tranh tụng trước thẩm phán. Án được tuyên hoặc bởi thẩm phán, hoặc trong một số trường hợp nhất định bởi bồi thẩm đoàn - là nhóm công dân được chọn ngẫu nhiên, có trách nhiệm xem xét bằng chứng và ra quyết định hợp lý về vụ án đó.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://www.carp.ca/wp-content/uploads/2013/11/Lady-Justice-frankfurt.jpg
Ít ra trên lý thuyết, về tổng thể, luật là hiện thân của công lý và thực thi công lý - cho dù định nghĩa này không khẳng định rằng chẳng có luật nào là bất công cả. Để đảm bảo sự thực thi công lý, các thẩm phán phải trung lập, các xét xử nói chung phải công khai cho báo chí và công chúng, để công lý không chỉ được thực thi mà còn được chứng kiến là đã được thực thi.
Ở các nước phương Tây, có hai hệ thống luật chính. Luật La Mã, áp dụng rộng rãi tại Âu Châu lục địa, bắt nguồn từ thời La Mã cổ đại. Hệ thống này dựa trên các điều luật tổng quát (chẳng hạn Bộ luật Napoleon ban hành ở Pháp và nhiều quốc gia khác vào đầu thế kỷ mười chín). Nó sử dụng hệ thống thẩm tra, trong đó thẩm phán nghiên cứu vụ án và chất vấn các nhân chứng tại tòa trước khi tuyên án.
Trái lại, thông luật được áp dụng tại Hoa Kỳ, Anh, và nhiều quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung, thì không dựa trên các đạo luật được Quốc hội hay Nghị viện thông qua, mà dựa trên án lệ, trong đó lần xét xử trước đây được xem là ràng buộc cho mọi trường hợp tương tự. Tiền lệ đó chỉ có thể bị bãi bỏ bởi đạo luật hay bởi tòa án cấp cao hơn. Trong các hệ thống thông luật, tố tụng mang tính đối kháng: các luật sư mỗi bên tranh tụng trước thẩm phán. Án được tuyên hoặc bởi thẩm phán, hoặc trong một số trường hợp nhất định bởi bồi thẩm đoàn - là nhóm công dân được chọn ngẫu nhiên, có trách nhiệm xem xét bằng chứng và ra quyết định hợp lý về vụ án đó.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://www.carp.ca/wp-content/uploads/2013/11/Lady-Justice-frankfurt.jpg
Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Thời gian - Time
Thời gian là một trong những đại lượng cơ bản của vật lý. Nó đo sự kéo dài, thường so với quá trình tuần hoàn thông thường nào đó chẳng hạn vòng quay của trái đất hay phát xạ của các nguyên tử cesium (dùng làm cơ sở cho định nghĩa hiện nay về giây, đơn vị thời gian cơ bản).
Trải nghiệm chủ quan của ta về thời gian cho thấy nó không tuyệt đối - thời gian lê thê khi ta chán nản và gấp gáp khi ta vui thích. Theo cách nhìn của ta, quá khứ, hiện tại, và tương lai giao nhau - ta luôn biết rằng không phải chỉ có thứ vô cùng nhỏ là "bây giờ", mà ta còn suy tư về những gì đã xảy ra và hướng đến điều sắp diễn ra.
Dầu vậy, trái với trải nghiệm, cơ học Newton cho rằng thời gian trôi đi với tốc độ không đổi. Tuy nhiên, thuyết tương đối của Einstein bảo ta rằng thời gian không tuyệt đối và ở tốc độ đạt gần tốc độ ánh sáng (so với người quan sát) thì thời gian giãn nở ra. Cùng với không gian, thời gian tạo thành thể liên tục bốn chiều gọi là không - thời gian.
Thời gian có thể được định nghĩa là bộ khung trong đó diễn ra sự thay đổi. Nó còn có chiều hướng: tuy hầu hết định luật vật lý đều cho phép các quá trình đi theo cả hai hướng, một số định luật thì không. Ví dụ định luật hai nhiệt động lực học, đưa ra vào thế kỷ mười chín, cho rằng entropy (tính hỗn loạn) của mọi hệ thống đều tăng theo thời gian. Đất đá tan vỡ, xe cộ gỉ sét, sinh vật chết đi và tàn hoại - mọi tiến trình đều bất khả đảo nghịch.
Theo thuyết Big Bang, vũ trụ khởi đầu cách nay 13,7 tỉ năm. Nếu thời gian xuất hiện trước đó thì bất cứ điều gì diễn ra ở khung thời gian trước đó có thể chẳng ảnh hưởng đến khung thời gian hiện tại.
Liệu thời gian có trôi mãi không? Định luật hai nhiệt động lực học cho rằng vũ trụ của ta chỉ là một trong vô vàn vũ trụ gọi chung là "đa vũ trụ".
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
Trải nghiệm chủ quan của ta về thời gian cho thấy nó không tuyệt đối - thời gian lê thê khi ta chán nản và gấp gáp khi ta vui thích. Theo cách nhìn của ta, quá khứ, hiện tại, và tương lai giao nhau - ta luôn biết rằng không phải chỉ có thứ vô cùng nhỏ là "bây giờ", mà ta còn suy tư về những gì đã xảy ra và hướng đến điều sắp diễn ra.
Dầu vậy, trái với trải nghiệm, cơ học Newton cho rằng thời gian trôi đi với tốc độ không đổi. Tuy nhiên, thuyết tương đối của Einstein bảo ta rằng thời gian không tuyệt đối và ở tốc độ đạt gần tốc độ ánh sáng (so với người quan sát) thì thời gian giãn nở ra. Cùng với không gian, thời gian tạo thành thể liên tục bốn chiều gọi là không - thời gian.
Thời gian có thể được định nghĩa là bộ khung trong đó diễn ra sự thay đổi. Nó còn có chiều hướng: tuy hầu hết định luật vật lý đều cho phép các quá trình đi theo cả hai hướng, một số định luật thì không. Ví dụ định luật hai nhiệt động lực học, đưa ra vào thế kỷ mười chín, cho rằng entropy (tính hỗn loạn) của mọi hệ thống đều tăng theo thời gian. Đất đá tan vỡ, xe cộ gỉ sét, sinh vật chết đi và tàn hoại - mọi tiến trình đều bất khả đảo nghịch.
Theo thuyết Big Bang, vũ trụ khởi đầu cách nay 13,7 tỉ năm. Nếu thời gian xuất hiện trước đó thì bất cứ điều gì diễn ra ở khung thời gian trước đó có thể chẳng ảnh hưởng đến khung thời gian hiện tại.
Liệu thời gian có trôi mãi không? Định luật hai nhiệt động lực học cho rằng vũ trụ của ta chỉ là một trong vô vàn vũ trụ gọi chung là "đa vũ trụ".
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Đức tin - Faith
Về khái niệm, đức tin (faith) gần nhưng không đồng nghĩa với niềm tin (belief). Trong triết học, niềm tin đối lập với tri thức: khi nói rằng ta tin điều gì đó là đúng, nghĩa là ta KHÔNG ĐỦ bằng chứng để nói rằng ta biết rõ điều đó. Tin vào Thượng Đế rơi vào trường hợp này, và ta thường ngụ ý đó là đức tin. Đức tin là niềm tin mạnh mẽ và không hề lay chuyển, KHÔNG CẦN chứng minh hay bằng chứng.
Trong thần học Thiên Chúa giáo, đức tin bao hàm sự phó thác vào Thượng Đế, vào các hành động và lời hứa của người. Như Thánh Paul đã nói: "Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ (hay xác tín) của những điều mình chẳng xem thấy" (Hebrews 11:1). Đức tin được xem là biểu hiện của ơn Thượng Đế. Ý tưởng tương tự được thấy trong Hồi giáo: "Chẳng ai có thể có đức tin ngoại trừ đó là ý muốn của A-la" (Qur’an 10:100).
"Các nhà thần học tự nhiên" cho rằng hiện hữu của Thượng Đế có thể kết luận được phần nào hay toàn bộ nhờ lý luận. Trái lại "các nhà tín ngưỡng luận" cho rằng niềm tin tôn giáo hoàn toàn dựa vào đức tin. Phiên bản cực đoan nhất của tín ngưỡng luận được bao hàm trong lời biện hộ về hiện thân của Thượng Đế từ linh mục Tertullian ở thế kỷ thứ ba: Certum est quia impossibile est ("Điều đó chắc chắn bởi vì đó là bất khả"). Đức tin, theo các nhà tín ngưỡng luận, được biện minh nhờ trải nghiệm huyền bí, nhờ mặc khải, và nhờ nhu cầu của con người về những điều không thể lý giải.
Tầm quan trọng của đức tin so với "hành động" (việc tốt) hầu xác định sự cứu rỗi linh hồn của một người đã gây nên rất nhiều tranh luận qua nhiều thế kỷ. Trong Thư của Thánh James ta đọc thấy "đức tin không có hành động thì vô dụng" (James 2:20).
Tuy nhiên, thần học Thiên Chúa giáo quan niệm rằng đối với người có tội mà biết ăn năn hối cải, nếu người đó có đức tin, thì có thể được cứu rỗi linh hồn nhờ ơn Thượng Đế. Điều này đặc biệt quan trọng trong đạo Tin Lành, và Martin Luther đã biểu đạt như sau: "Là kẻ có tội và phạm tội trọng, nhưng quan trọng hơn là có đức tin và vui trong Chúa".
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://beginningandend.com/wp-content/uploads/2012/10/Praying-Defnding-the-Christian-faith-e1349305115650.jpg
Trong thần học Thiên Chúa giáo, đức tin bao hàm sự phó thác vào Thượng Đế, vào các hành động và lời hứa của người. Như Thánh Paul đã nói: "Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ (hay xác tín) của những điều mình chẳng xem thấy" (Hebrews 11:1). Đức tin được xem là biểu hiện của ơn Thượng Đế. Ý tưởng tương tự được thấy trong Hồi giáo: "Chẳng ai có thể có đức tin ngoại trừ đó là ý muốn của A-la" (Qur’an 10:100).
"Các nhà thần học tự nhiên" cho rằng hiện hữu của Thượng Đế có thể kết luận được phần nào hay toàn bộ nhờ lý luận. Trái lại "các nhà tín ngưỡng luận" cho rằng niềm tin tôn giáo hoàn toàn dựa vào đức tin. Phiên bản cực đoan nhất của tín ngưỡng luận được bao hàm trong lời biện hộ về hiện thân của Thượng Đế từ linh mục Tertullian ở thế kỷ thứ ba: Certum est quia impossibile est ("Điều đó chắc chắn bởi vì đó là bất khả"). Đức tin, theo các nhà tín ngưỡng luận, được biện minh nhờ trải nghiệm huyền bí, nhờ mặc khải, và nhờ nhu cầu của con người về những điều không thể lý giải.
Tầm quan trọng của đức tin so với "hành động" (việc tốt) hầu xác định sự cứu rỗi linh hồn của một người đã gây nên rất nhiều tranh luận qua nhiều thế kỷ. Trong Thư của Thánh James ta đọc thấy "đức tin không có hành động thì vô dụng" (James 2:20).
Tuy nhiên, thần học Thiên Chúa giáo quan niệm rằng đối với người có tội mà biết ăn năn hối cải, nếu người đó có đức tin, thì có thể được cứu rỗi linh hồn nhờ ơn Thượng Đế. Điều này đặc biệt quan trọng trong đạo Tin Lành, và Martin Luther đã biểu đạt như sau: "Là kẻ có tội và phạm tội trọng, nhưng quan trọng hơn là có đức tin và vui trong Chúa".
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://beginningandend.com/wp-content/uploads/2012/10/Praying-Defnding-the-Christian-faith-e1349305115650.jpg
Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Học thuyết Aristotle - Aristotelianism
Triết gia Hy Lạp Aristotle (384-322 trước Công nguyên) là học trò của Plato nhưng phương pháp của ông rất khác. Khi Plato cho rằng thực tại tối thượng vượt quá kinh nghiệm của con người, thì Aristotle lại quan tâm nghiên cứu thế giới như đang thấy. Ông viết về rất nhiều chủ đề, từ logic, mỹ học, chính trị cho đến vật lý, siêu hình học, thiên văn học, khí tượng học, tâm lý học, sinh học, và động vật học.
Trái với Plato, Aristotle cho rằng thực tại được tạo thành từ các chất liệu cá thể, không phải từ những đối tượng trừu tượng. Đối với ông, nguồn kiến thức duy nhất là bằng chứng do các giác quan của ta đem lại, và ông khẳng định rằng nhờ dùng lý luận ta có thể thiết lập những thuộc tính phân biệt, nói cách khác là các tính chất căn bản, của mọi vật. Như vậy từ cụ thể ta có thể tổng quát hóa.
Aristotle tìm cách đặt lý luận đó trên nền tảng vững chắc và tìm hiểu bản chất của tam đoạn luận, một phương pháp suy luận được minh họa qua ví dụ sau: "Toàn dân Hy Lạp là người; mọi người đều sẽ chết; vì vậy toàn dân Hy Lạp đều sẽ chết". Bằng cách chỉ ra loại suy luận nào hợp lệ và loại nào không, Aristotle đã thiết lập nên căn bản của logic hình thức và đề ra nền tảng logic cho khoa học.
Khi phân tích thi ca và kịch nghệ, Aristotle cho rằng nghệ thuật thể hiện thiên nhiên ở một dạng lý tưởng, bản chất của vẻ đẹp là tính đối xứng và trật tự, mục đích của bi kịch là thanh tẩy cảm xúc qua lòng thương xót và nỗi sợ. Ông tranh luận rằng để được hạnh phúc, vận dụng lý luận đóng vai trò hết sức quan trọng, lý luận là khả năng căn bản của con người. Vận dụng lý luận vừa là nỗ lực trí tuệ vừa để kiểm soát cảm xúc bản thân hầu đạt được "cân bằng quí giá" giữa khắc khổ và xa xỉ.
Khi Âu châu còn mông muội, giáo huấn của Aristotle đã được các học giả trong thế giới Hồi giáo trình bày. Đến thế kỷ thứ mười hai, khi những bản dịch Latin bắt đầu xuất tại Âu châu, chúng đã tác động to lớn, cung cấp một khuôn khổ cho sự phát triển sau này của tư tưởng Tây phương.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://www.quotesvalley.com/images/07/happiness-depends-upon-ourselvesaristotle.jpg
Trái với Plato, Aristotle cho rằng thực tại được tạo thành từ các chất liệu cá thể, không phải từ những đối tượng trừu tượng. Đối với ông, nguồn kiến thức duy nhất là bằng chứng do các giác quan của ta đem lại, và ông khẳng định rằng nhờ dùng lý luận ta có thể thiết lập những thuộc tính phân biệt, nói cách khác là các tính chất căn bản, của mọi vật. Như vậy từ cụ thể ta có thể tổng quát hóa.
Aristotle tìm cách đặt lý luận đó trên nền tảng vững chắc và tìm hiểu bản chất của tam đoạn luận, một phương pháp suy luận được minh họa qua ví dụ sau: "Toàn dân Hy Lạp là người; mọi người đều sẽ chết; vì vậy toàn dân Hy Lạp đều sẽ chết". Bằng cách chỉ ra loại suy luận nào hợp lệ và loại nào không, Aristotle đã thiết lập nên căn bản của logic hình thức và đề ra nền tảng logic cho khoa học.
Khi phân tích thi ca và kịch nghệ, Aristotle cho rằng nghệ thuật thể hiện thiên nhiên ở một dạng lý tưởng, bản chất của vẻ đẹp là tính đối xứng và trật tự, mục đích của bi kịch là thanh tẩy cảm xúc qua lòng thương xót và nỗi sợ. Ông tranh luận rằng để được hạnh phúc, vận dụng lý luận đóng vai trò hết sức quan trọng, lý luận là khả năng căn bản của con người. Vận dụng lý luận vừa là nỗ lực trí tuệ vừa để kiểm soát cảm xúc bản thân hầu đạt được "cân bằng quí giá" giữa khắc khổ và xa xỉ.
Khi Âu châu còn mông muội, giáo huấn của Aristotle đã được các học giả trong thế giới Hồi giáo trình bày. Đến thế kỷ thứ mười hai, khi những bản dịch Latin bắt đầu xuất tại Âu châu, chúng đã tác động to lớn, cung cấp một khuôn khổ cho sự phát triển sau này của tư tưởng Tây phương.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://www.quotesvalley.com/images/07/happiness-depends-upon-ourselvesaristotle.jpg
Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Ám dụ - Allegory
Ám dụ là một bài văn hay nghệ thuật thị giác trong đó các thành phần - như nhân vật, đối tượng, và nơi chốn - ám chỉ có hệ thống những vấn đề khác, khiến câu chuyện hay bức tranh chuyển tải thêm ý nghĩa nào đó. Mục đích là giáo huấn, đạo đức, hay châm biếm.
Ám dụ thường bao hàm việc nhân cách hóa những khái niệm trừu tượng, chẳng hạn tranh Ám dụ về thần Vệ nữ và thần Tình yêu của Bronzino (khoảng 1545) có nhiều nhân vật được cho là ám chỉ Dại dột, Xảo trá, Ghen tuông, và Thời gian. Một ví dụ khác dễ hiểu hơn là tác phẩm Đường Hành hương của Bunyan (1678), thuật lại hành trình của người anh hùng Christian từ Thành phố Hoang tàn qua những nơi như Hội chợ Phù hoa và Vũng lầy Tuyệt vọng đến đích cuối cùng là Thiên đường. Một ám dụ hiện đại danh tiếng là tác phẩm Trại Súc vật của George Orwell, đây là chuyện ngụ ngôn phê phán thẳng thắn lý tưởng cách mạng Nga bị biến chất dưới thời Stalin - người được tiểu thuyết mô tả là heo với tên Napoleon.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/bd/Angelo_Bronzino_001.jpg
Ám dụ thường bao hàm việc nhân cách hóa những khái niệm trừu tượng, chẳng hạn tranh Ám dụ về thần Vệ nữ và thần Tình yêu của Bronzino (khoảng 1545) có nhiều nhân vật được cho là ám chỉ Dại dột, Xảo trá, Ghen tuông, và Thời gian. Một ví dụ khác dễ hiểu hơn là tác phẩm Đường Hành hương của Bunyan (1678), thuật lại hành trình của người anh hùng Christian từ Thành phố Hoang tàn qua những nơi như Hội chợ Phù hoa và Vũng lầy Tuyệt vọng đến đích cuối cùng là Thiên đường. Một ám dụ hiện đại danh tiếng là tác phẩm Trại Súc vật của George Orwell, đây là chuyện ngụ ngôn phê phán thẳng thắn lý tưởng cách mạng Nga bị biến chất dưới thời Stalin - người được tiểu thuyết mô tả là heo với tên Napoleon.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/bd/Angelo_Bronzino_001.jpg
Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013
Kiến thức phổ thông: Trí khôn - Intelligence
Điều gì tạo nên trí khôn là thắc mắc tiếp tục gây nhiều tranh luận, cũng như nghi vấn là di truyền hay môi trường đóng vai trò nổi trội trong việc xác định trí khôn của một người.
Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, tâm lý gia người Pháp Alfred Binet (1857–1911) đã phát triển các bài trắc nghiệm trí khôn đầu tiên dành cho học sinh. Chẳng bao lâu sau, một cơ sở thống kê cho những trắc nghiệm đó đã được đưa ra dưới dạng "chỉ số thông minh", hay IQ (Intelligence Quotion), tức dựa trên tỉ số giữa tuổi thực tế và tuổi phát triển trí tuệ, trong đó tuổi phát triển trí tuệ được đo từ kết quả trắc nghiệm. Trắc nghiệm IQ thường dùng cả lý luận bằng lời lẫn không lời để đánh giá trí khôn nội tại. Tuy nhiên, phương pháp này đã bị suy yếu do trẻ em có thể được luyện để làm trắc nghiệm IQ tốt hơn.
Một mô hình trí khôn khác được tâm lý gia Thụy Sĩ Jean Piaget (1896–1980) đưa ra. Piaget nghiên cứu quá trình tư duy ở trẻ em, đặc biệt là nhận thức, phán đoán, và lý luận, từ đó ông đưa ra một chuỗi các giai đoạn định tính khác nhau trong quá trình phát triển trí khôn của người lớn. Ông kết luận rằng quá trình phát triển này phụ thuộc vào các yếu tố môi trường, nhằm cung cấp những kinh nghiệm cần thiết, và rằng giáo dục trẻ em cần được thiết kế nhằm nâng cao quá trình này.
Cả trắc nghiệm IQ lẫn mô hình Piaget đều không xem xét đến những khác biệt văn hóa. Một phương pháp thứ ba xem trí khôn là do văn hóa qui định: nhiều xã hội coi trọng một số kỹ năng này hơn các kỹ năng khác. Chẳng hạn, dân tộc chuyên săn bắn hái lượm coi trọng kiến thức về môi trường thiên nhiên và khả năng kết hợp kiến thức thiên nhiên với những kỹ năng thực dụng như dò tìm dấu vết và săn bắn. Các kỹ năng mà trắc nghiệm IQ yêu cầu phải làm tốt, trong khi có thể có giá trị trong những xã hội công nghiệp hiện đại, thì lại rất không phù hợp với dân tộc đó.
Một phương pháp khác lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của "trí tuệ cảm xúc" (EQ). Những người ủng hộ phương pháp này cho rằng các phương diện nhận thức của trí khôn như kỹ năng giải quyết vấn đề chỉ là một phần. Phần quan trọng không kém trong thành công của ta là khả năng thấu hiểu và kiểm soát các cảm xúc của bản thân cũng như của người khác.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://choivahoccungbe.com/wp-content/uploads/2013/11/IQ_EQ.png
Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, tâm lý gia người Pháp Alfred Binet (1857–1911) đã phát triển các bài trắc nghiệm trí khôn đầu tiên dành cho học sinh. Chẳng bao lâu sau, một cơ sở thống kê cho những trắc nghiệm đó đã được đưa ra dưới dạng "chỉ số thông minh", hay IQ (Intelligence Quotion), tức dựa trên tỉ số giữa tuổi thực tế và tuổi phát triển trí tuệ, trong đó tuổi phát triển trí tuệ được đo từ kết quả trắc nghiệm. Trắc nghiệm IQ thường dùng cả lý luận bằng lời lẫn không lời để đánh giá trí khôn nội tại. Tuy nhiên, phương pháp này đã bị suy yếu do trẻ em có thể được luyện để làm trắc nghiệm IQ tốt hơn.
Một mô hình trí khôn khác được tâm lý gia Thụy Sĩ Jean Piaget (1896–1980) đưa ra. Piaget nghiên cứu quá trình tư duy ở trẻ em, đặc biệt là nhận thức, phán đoán, và lý luận, từ đó ông đưa ra một chuỗi các giai đoạn định tính khác nhau trong quá trình phát triển trí khôn của người lớn. Ông kết luận rằng quá trình phát triển này phụ thuộc vào các yếu tố môi trường, nhằm cung cấp những kinh nghiệm cần thiết, và rằng giáo dục trẻ em cần được thiết kế nhằm nâng cao quá trình này.
Cả trắc nghiệm IQ lẫn mô hình Piaget đều không xem xét đến những khác biệt văn hóa. Một phương pháp thứ ba xem trí khôn là do văn hóa qui định: nhiều xã hội coi trọng một số kỹ năng này hơn các kỹ năng khác. Chẳng hạn, dân tộc chuyên săn bắn hái lượm coi trọng kiến thức về môi trường thiên nhiên và khả năng kết hợp kiến thức thiên nhiên với những kỹ năng thực dụng như dò tìm dấu vết và săn bắn. Các kỹ năng mà trắc nghiệm IQ yêu cầu phải làm tốt, trong khi có thể có giá trị trong những xã hội công nghiệp hiện đại, thì lại rất không phù hợp với dân tộc đó.
Một phương pháp khác lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của "trí tuệ cảm xúc" (EQ). Những người ủng hộ phương pháp này cho rằng các phương diện nhận thức của trí khôn như kỹ năng giải quyết vấn đề chỉ là một phần. Phần quan trọng không kém trong thành công của ta là khả năng thấu hiểu và kiểm soát các cảm xúc của bản thân cũng như của người khác.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Nguồn ảnh: http://choivahoccungbe.com/wp-content/uploads/2013/11/IQ_EQ.png
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





