Điện và từ được hiểu sơ sài cho đến đầu thế kỷ mười chín, khi một loạt các thực nghiệm chứng minh được rằng dòng điện chạy qua dây đồng đã tác động đến những chiếc kim la bàn từ tính đặt gần đó. Rõ ràng rằng cả điện và từ đều là các lực tác động lên nhau ở một khoảng cách nhất định. Năm 1831, nhà vật lý người Anh Michael Faraday (1791–1867) chứng tỏ rằng dòng điện sẽ phát sinh trên dây dẫn nếu chịu tác động bởi một từ trường biến đổi. Đây là cơ sở của máy phát điện, còn quá trình ngược lại là cơ sở cho động cơ điện.
Sau đó cũng trong thế kỷ mười chín, nhà vật lý người Scotland James Clerk Maxwell (1831–79) cho rằng điện và từ là những biểu hiện của một lực điện từ duy nhất và dao động điện sẽ phát sinh sóng điện từ. Nghiên cứu sâu hơn đã kiểm chứng được lý thuyết của ông, và người ta khám phá ra rằng mọi hiện tượng, từ sóng vô tuyến, ánh sáng khả kiến cho đến tia X về bản chất đều là điện từ.
* Chú thích cho ảnh: Một nam châm điện gồm dây dẫn cuốn quanh lõi sắt. Khi có dòng điện chạy qua dây, từ trường sẽ phát sinh bên trong và xung quanh lõi sắt.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
Ứng xử trong gia đình
- OOP
- JSF
- Essays
- Thuật ngữ Anh-Việt
- Kỹ năng mềm
- Đường thành công
- Hướng nghiệp
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nam
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nữ
- Phép lịch sự trong gia đình
- Phép lịch sự nơi công cộng
- Phép lịch sự khi làm khách
- Kiến Thức Phổ Thông
- Kinh tế học căn bản
- Toán học trong vài phút
- Nhân liệu (Peopleware)
- Phát triển HTTT kế toán bằng MS Access
- Lập trình viên hạnh phúc
Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014
Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Thần lý học - Theodicy
Nếu Thượng Đế là toàn năng, toàn trí, và giàu lòng thương xót, thì làm sao ngài lại có thể để sự dữ tồn tại trên thế gian? Mục đích thiêng liêng nào đằng sau những thiên tai như bệnh tật, động đất, và lũ lụt, hay những sự xấu luân lý như giết người, chiến tranh, và nghèo đói?
Đây là vấn đề được thần lý học thuộc thần học Thiên Chúa giáo nhắm đến, như trong phần mở đầu tác phẩm Thiên đường đã mất (1667) của nhà thơ Anh John Milton, để "minh chứng cho đường lối của Thượng Đế dành cho con người". Hầu hết các lập luận đều viện dẫn ý tưởng về ý chí tự do: Thượng Đế đã trao con người quyền tự do chọn lựa, và nếu họ chọn sự xấu luân lý, đó là trách nhiệm của họ. Đây là điều đã xảy ra với Adam và Eve, và "tội lỗi nguyên thủy" của họ là nguồn gốc của mọi sự xấu, về luân lý cũng như thiên tai, trong đó thiên tai là sự trừng phạt tội lỗi. Một lập luận khá khác biệt thì cho rằng điều lành và sự dữ tồn tại là để giúp con người trưởng thành, vươn đến sự hoàn thiện mà Thượng Đế đã sắp đặt.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://s3.hubimg.com/u/6699882_f496.jpg
Đây là vấn đề được thần lý học thuộc thần học Thiên Chúa giáo nhắm đến, như trong phần mở đầu tác phẩm Thiên đường đã mất (1667) của nhà thơ Anh John Milton, để "minh chứng cho đường lối của Thượng Đế dành cho con người". Hầu hết các lập luận đều viện dẫn ý tưởng về ý chí tự do: Thượng Đế đã trao con người quyền tự do chọn lựa, và nếu họ chọn sự xấu luân lý, đó là trách nhiệm của họ. Đây là điều đã xảy ra với Adam và Eve, và "tội lỗi nguyên thủy" của họ là nguồn gốc của mọi sự xấu, về luân lý cũng như thiên tai, trong đó thiên tai là sự trừng phạt tội lỗi. Một lập luận khá khác biệt thì cho rằng điều lành và sự dữ tồn tại là để giúp con người trưởng thành, vươn đến sự hoàn thiện mà Thượng Đế đã sắp đặt.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://s3.hubimg.com/u/6699882_f496.jpg
Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Tự nhiên - Nature
Tự nhiên, như tình yêu, là một trong những từ đa nghĩa và chất đầy sức nặng văn hóa. "Tự nhiên" của điều gì nghĩa là bản chất hay điều xác định phẩm chất của nó. "Tự nhiên" còn ngụ ý toàn bộ vũ trụ vật lý, tương phản với thế giới tư tưởng hay tinh thần.
Ngoài ra, "tự nhiên" là mọi thứ tách biệt khỏi "văn minh". Phần lớn lịch sử loài người, tự nhiên theo nghĩa này được cho là ghê rợn. Chẳng hạn, rừng núi là nguy hiểm, vô dụng, và vì vậy xấu xa. Chỉ những phong cảnh được khai hoang nhờ trồng trọt và công nghiệp mới có giá trị tinh thần và thẩm mỹ. Nhưng khởi đầu của trào lưu Lãng mạn ở cuối thế kỷ mười tám đã thay đổi quan điểm của chúng ta, miêu tả nơi hoang dã là nguồn khích lệ cao cả. Gần đây, phong trào môi trường đã nhấn mạnh giá trị sinh thái của những vùng hoang dã chưa dấu chân người.
* Chú thích: Bức tranh Ngựa Sợ Sư tử của George Stubbs phác họa phương diện tàn bạo cũng như lãng mạn của tự nhiên.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://uploads8.wikipaintings.org/images/george-stubbs/a-horse-frightened-by-a-lion-1770.jpg
Ngoài ra, "tự nhiên" là mọi thứ tách biệt khỏi "văn minh". Phần lớn lịch sử loài người, tự nhiên theo nghĩa này được cho là ghê rợn. Chẳng hạn, rừng núi là nguy hiểm, vô dụng, và vì vậy xấu xa. Chỉ những phong cảnh được khai hoang nhờ trồng trọt và công nghiệp mới có giá trị tinh thần và thẩm mỹ. Nhưng khởi đầu của trào lưu Lãng mạn ở cuối thế kỷ mười tám đã thay đổi quan điểm của chúng ta, miêu tả nơi hoang dã là nguồn khích lệ cao cả. Gần đây, phong trào môi trường đã nhấn mạnh giá trị sinh thái của những vùng hoang dã chưa dấu chân người.
* Chú thích: Bức tranh Ngựa Sợ Sư tử của George Stubbs phác họa phương diện tàn bạo cũng như lãng mạn của tự nhiên.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://uploads8.wikipaintings.org/images/george-stubbs/a-horse-frightened-by-a-lion-1770.jpg
Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Trường phái hiện thực và trường phái tự nhiên - Realism and Naturalism
Trong văn học và nghệ thuật thị giác, chủ nghĩa hiện thực thể hiện cách tiếp cận trong đó nghệ sĩ cố gắng phác họa thế giới đúng như vậy, thay vì dưới dạng một thế giới được lý tưởng hóa hay tưởng tượng nào đó. Thuật ngữ này đặc biệt liên hệ đến thời kỳ hậu Lãng mạn, khi đó người theo chủ nghĩa hiện thực bác bỏ yếu tố đa cảm và lý tưởng hóa của phần lớn tác phẩm văn học và nghệ thuật ở thế kỷ mười tám, cũng như bác bỏ tính chủ quan, nỗi ám ảnh với những chủ đề vĩ đại và hùng tráng từng đánh dấu thời kỳ Lãng mạn.
Thuật ngữ "chủ nghĩa hiện thực" đầu tiên được dùng ở Pháp vào những năm 1830 nhằm ám chỉ các nhà văn Balzac và Stendhal. Trong thiên tiểu thuyết vĩ đại của mình bắt đầu từ năm 1836 và được gọi chung là La Comédie Humaine ("Tấn trò đời"), Balzac can đảm soi rọi vào xã hội Pháp thời đó. Nhân vật của Balzac là những con người phức tạp, về mặt đạo đức thì không trắng cũng chẳng đen, mà được tô vẽ bằng nhiều mảng xám khác nhau. Tập trung của Balzac về xã hội đương thời (hay cận đương thời) và đặc trưng nhận thức tâm lý của ông được nhiều nhà văn hiện thực khác chia sẻ, từ Flaubert và Maupassant ở Pháp, Turgenev, Gogol, Tolstoy, và Chekhov ở Nga, cho đến Dickens, Trollope, và George Eliot ở Anh.
Trong nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực cũng bắt nguồn từ Pháp, các cảnh tượng thô ráp và vô cảm từ đời sống đương thời, chẳng hạn tác phẩm Người đập đá của Courbet (1850) và Tiệc trưa trên bãi cỏ của Manet (1863) - phác họa hai phụ nữ mại dâm cùng với khách hàng - đã gây sốc công chúng. Về tranh phong cảnh cũng vậy, các họa sĩ như Corot và Théodore Rousseau đã vẽ tranh ngoài trời thay vì trong xưởng đã gây nhiều tranh luận.
Đến cuối thế kỷ mười chín, một tiếp cận văn học mới xuất hiện: chủ nghĩa tự nhiên. Ở đó các tiểu thuyết hiện thực biết chọn lọc điều cần mô tả và thường tập trung vào một vài nhân vật, tác phẩm của các nhà văn theo trường phái tự nhiên như Zola ở Pháp, Gorki ở Nga, và Dreiser ở Hoa Kỳ hàm chứa những mảng quan sát xã hội "có tính khoa học", quan tâm nhiều đến việc làm sao để môi trường xã hội có thể tác động đến hành xử của con người và làm thế nào cải cách xã hội.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://parodiesandvariations.files.wordpress.com/2012/03/manet-le-dejeuner-sur-l_herbe-sculpture-parody.jpg
Thuật ngữ "chủ nghĩa hiện thực" đầu tiên được dùng ở Pháp vào những năm 1830 nhằm ám chỉ các nhà văn Balzac và Stendhal. Trong thiên tiểu thuyết vĩ đại của mình bắt đầu từ năm 1836 và được gọi chung là La Comédie Humaine ("Tấn trò đời"), Balzac can đảm soi rọi vào xã hội Pháp thời đó. Nhân vật của Balzac là những con người phức tạp, về mặt đạo đức thì không trắng cũng chẳng đen, mà được tô vẽ bằng nhiều mảng xám khác nhau. Tập trung của Balzac về xã hội đương thời (hay cận đương thời) và đặc trưng nhận thức tâm lý của ông được nhiều nhà văn hiện thực khác chia sẻ, từ Flaubert và Maupassant ở Pháp, Turgenev, Gogol, Tolstoy, và Chekhov ở Nga, cho đến Dickens, Trollope, và George Eliot ở Anh.
Trong nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực cũng bắt nguồn từ Pháp, các cảnh tượng thô ráp và vô cảm từ đời sống đương thời, chẳng hạn tác phẩm Người đập đá của Courbet (1850) và Tiệc trưa trên bãi cỏ của Manet (1863) - phác họa hai phụ nữ mại dâm cùng với khách hàng - đã gây sốc công chúng. Về tranh phong cảnh cũng vậy, các họa sĩ như Corot và Théodore Rousseau đã vẽ tranh ngoài trời thay vì trong xưởng đã gây nhiều tranh luận.
Đến cuối thế kỷ mười chín, một tiếp cận văn học mới xuất hiện: chủ nghĩa tự nhiên. Ở đó các tiểu thuyết hiện thực biết chọn lọc điều cần mô tả và thường tập trung vào một vài nhân vật, tác phẩm của các nhà văn theo trường phái tự nhiên như Zola ở Pháp, Gorki ở Nga, và Dreiser ở Hoa Kỳ hàm chứa những mảng quan sát xã hội "có tính khoa học", quan tâm nhiều đến việc làm sao để môi trường xã hội có thể tác động đến hành xử của con người và làm thế nào cải cách xã hội.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://parodiesandvariations.files.wordpress.com/2012/03/manet-le-dejeuner-sur-l_herbe-sculpture-parody.jpg
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Tâm lý học tiến hóa - Evolutionary Psychology
Tâm lý học tiến hóa tìm cách diễn giải các đặc điểm tâm lý là những thích nghi do chọn lọc tự nhiên hay chọn lọc giới tính. Người theo trường phái này cho rằng phần lớn hành vi con người đều tiến hóa tương tự như cách tiến hóa của các đặc trưng thể chất của ta - tức cách giải quyết những vấn đề chung mà tổ tiên ta từng gặp. Tâm lý học tiến hóa đánh giá thấp vai trò văn hóa, mặc dù không loại bỏ hoàn toàn. Chẳng hạn, khả năng phổ quát của con người về sử dụng ngôn ngữ được cho là một thích nghi tiến hóa, trong khi các ngôn ngữ cụ thể lại là những kiến lập văn hóa. Các ví dụ khác về thích nghi thường được các tâm lý gia tiến hóa trích dẫn là chủ nghĩa vị tha, khả năng nhận biết họ hàng, sự hợp tác, tính gây hấn của giống đực, và sự chọn lựa bạn đời.
Các giả định của tâm lý học tiến hóa bị chỉ trích là không thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, một số giả định đã được kiểm chứng thành công: chẳng hạn, có thể chứng minh rằng con người nhớ những gì liên quan đến sự sinh tồn (như thực phẩm, dã thú, chỗ ở) dễ dàng hơn rất nhiều so với các vấn đề khác.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/28/Eugen_de_Blaas_The_Flirtation.jpg
Các giả định của tâm lý học tiến hóa bị chỉ trích là không thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, một số giả định đã được kiểm chứng thành công: chẳng hạn, có thể chứng minh rằng con người nhớ những gì liên quan đến sự sinh tồn (như thực phẩm, dã thú, chỗ ở) dễ dàng hơn rất nhiều so với các vấn đề khác.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/28/Eugen_de_Blaas_The_Flirtation.jpg
Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Tội ác - Crime
Tội ác là bất kỳ hành động nào mà luật pháp của một quốc gia cho là có hại và nguy hiểm cho xã hội. Khi những hành động như trộm cướp và giết người bị xem là tội ác ở hầu hết các xã hội trong suốt chiều dài lịch sử, những tội ác khác lại tùy thời điểm và tùy xã hội. Chẳng hạn, tới những năm 1960 thì tự tử là tội ác đối với nhiều quốc gia, nhưng đến những năm 1980 thì "giao dịch nội gián" chứng khoán động sản mới trở thành tội ác với nhiều nước.
Tội ác có thể được phân làm nhiều loại. Tội ác chống con người như giết người và cưỡng dâm; tội ác về tài sản như trộm cướp và phá hoại; tội ác về trật tự công cộng như bạo động và gây chia rẽ dân tộc; tội ác chống nhà nước như nổi loạn và phản quốc. Trong phiên tòa xét xử tội ác, bên truy tố phải chứng minh được rằng bị can đã vi phạm mà "không một mảy may nghi ngờ" và bị can hoàn toàn cố ý hành động. Nếu có tội, bị can có thể dùng các biện hộ như là để tự vệ, bị ép buộc, hay bị mất trí để được khoan hồng.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://www.loosenessofassociation.com/wp-content/uploads/2012/03/Cain-Kill-Abel2.jpg
Tội ác có thể được phân làm nhiều loại. Tội ác chống con người như giết người và cưỡng dâm; tội ác về tài sản như trộm cướp và phá hoại; tội ác về trật tự công cộng như bạo động và gây chia rẽ dân tộc; tội ác chống nhà nước như nổi loạn và phản quốc. Trong phiên tòa xét xử tội ác, bên truy tố phải chứng minh được rằng bị can đã vi phạm mà "không một mảy may nghi ngờ" và bị can hoàn toàn cố ý hành động. Nếu có tội, bị can có thể dùng các biện hộ như là để tự vệ, bị ép buộc, hay bị mất trí để được khoan hồng.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: http://www.loosenessofassociation.com/wp-content/uploads/2012/03/Cain-Kill-Abel2.jpg
Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014
Kiến thức phổ thông: Chủ nghĩa Keynes - Keynesianism
Chủ nghĩa Keynes là học thuyết kinh tế do kinh tế gia người Anh John Maynard Keynes (1883–1946) đề xuất sau khi phát sinh tình trạng thất nghiệp tràn lan trong cuộc Đại Suy trầm vào những năm 1930. Trong khi các kinh tế gia khác cho rằng thị trường tự do sẽ nhanh chóng tạo đầy đủ việc làm nếu công nhân chấp nhận lương thấp, thì Keynes lại tin rằng tình trạng thất nghiệp nhiều là hậu quả của việc thiếu hụt nhu cầu tổng thể về sản phẩm và dịch vụ, và việc giảm lương công nhân còn khiến nhu cầu giảm thấp hơn nữa.
Để kích cầu, Keynes chủ trương chính phủ phải can thiệp - chẳng hạn thông qua tài trợ các công trình công cộng. Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này trong những năm 1930 dưới tên gọi Tân Chính sách của tổng thống Franklin D. Roosevelt, kết quả là xuất hiện các dự án khổng lồ như Đập Hoover. Đến những năm 1950 và 1960, chủ nghĩa Keynes được nhiều chính phủ phương Tây áp dụng. Đến các năm 1970 thì ý tưởng Keynes bị những người theo chủ nghĩa tiền tệ đả kích, nhưng nó vẫn có tầm ảnh hưởng sâu rộng và chứng tỏ hiệu quả trong việc giải quyết tình trạng khủng hoảng tài chính 2007-8.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: https://wbacorp.com/public/userfiles/6-bridge.jpg
Để kích cầu, Keynes chủ trương chính phủ phải can thiệp - chẳng hạn thông qua tài trợ các công trình công cộng. Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này trong những năm 1930 dưới tên gọi Tân Chính sách của tổng thống Franklin D. Roosevelt, kết quả là xuất hiện các dự án khổng lồ như Đập Hoover. Đến những năm 1950 và 1960, chủ nghĩa Keynes được nhiều chính phủ phương Tây áp dụng. Đến các năm 1970 thì ý tưởng Keynes bị những người theo chủ nghĩa tiền tệ đả kích, nhưng nó vẫn có tầm ảnh hưởng sâu rộng và chứng tỏ hiệu quả trong việc giải quyết tình trạng khủng hoảng tài chính 2007-8.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Toàn bộ kiến thức phổ thông được tập hợp tại http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html
-- Ảnh: https://wbacorp.com/public/userfiles/6-bridge.jpg
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






