Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Kiến thức phổ thông: Chủ nghĩa đa văn hóa - Multiculturalism

CHỦ NGHĨA ĐA VĂN HÓA - MULTICULTURALISM

Nhờ các quá trình như di trú và toàn cầu hóa mà nhiều xã hội trên thế giới ngày nay được cấu thành từ sự pha trộn của nhiều dân tộc. Chủ nghĩa đa văn hóa là chính sách thừa nhận và thậm chí khuyến khích nhiều văn hóa dân tộc và tôn giáo khác nhau trong một xã hội thay vì áp đặt một bản sắc văn hóa đơn nhất. Khi chống lại chủ nghĩa đa văn hóa, một số người lập luận rằng nếu người nhập cư muốn ổn định trong một xã hội, tự họ cần phải đồng hóa bằng cách thừa nhận các giá trị văn hóa của "chủ nhà". Chỉ như vậy thì liên kết xã hội mới được duy trì, và tránh căng thẳng cũng như xung đột.

Một số nước, chẳng hạn Anh, đã thừa nhận một mức độ đa văn hóa, trong khi các nước khác, chẳng hạn Pháp, lại khuyến khích đồng hóa và đôi khi thậm chí áp đặt bằng điều luật - chẳng hạn cấm phụ nữ Hồi giáo dùng mạng che mặt truyền thống. Hoa Kỳ luôn tự cho rằng họ là một "chiếc nồi nóng chảy" gồm nhiều dân nhập cư khác nhau, có xu hướng thể hiện bản sắc dân tộc của họ trong bối cảnh của một bản sắc Hoa Kỳ bao trùm.


-- Hình: Chủ nghĩa đa văn hóa so với chủ nghĩa dân tộc (https://img.4plebs.org/boards/pol/image/1390/10/1390103753395.jpg)
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông (http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html)

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Kiến thức phổ thông: Vấn đề tâm thức của người khác - The Other Minds Problem

VẤN ĐỀ TÂM THỨC CỦA NGƯỜI KHÁC - THE OTHER MINDS PROBLEM

Một trong những câu hỏi gây khó khăn cho các triết gia (và trẻ em tò mò ở độ tuổi nhất định) là: Làm sao tôi có thể nói rằng người khác cũng có một tâm thức? Tôi biết rằng tôi có ý thức, có tư duy và cảm xúc, biết đỏ là đỏ, biết cảm giác bị cháy là đau đớn, ... Nhưng làm sao tôi có thể nói rằng người khác cũng vậy? Mọi điều mà tôi có thể quan sát được là hành vi bên ngoài của người khác. Nhưng làm sao tôi biết rằng họ không phải là ma?

Dĩ nhiên, lẽ thường bảo ta đây chẳng qua là một sự quấy rầy, nhưng sự thật là không có cách nào chứng minh được hiện hữu tâm thức của người khác. Điều tốt nhất mà ta có thể làm là lập luận từ sự tương tự. Ta thấy rằng có quá nhiều người phản ứng lại các kích thích giống với ta đến nỗi khiến ta tin rằng điều đó là đúng, vì sinh lý và hành vi của họ giống ta, tâm thức của họ cũng phải giống ta.


-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông (http://cstmind.blogspot.com/p/kien.html)

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Kinh tế học căn bản: Nhân quả nghịch

PHỤ LỤC CHƯƠNG 2: ĐỒ THỊ TRONG KINH TẾ HỌC

NHÂN QUẢ NGHỊCH

Thậm chí khi bạn tự tin rằng không có biến bị loại trừ và có quan hệ nhân quả giữa hai biến thể hiện trong đồ thị số, bạn còn phải cẩn thận để không mắc lỗi nhân quả nghịch (reverse causality) - đến từ kết luận sai lầm về đâu là biến phụ thuộc và đâu là biến độc lập bằng cách đảo ngược hướng nhân quả đúng giữa hai biến. Chẳng hạn, hãy hình dung một sơ đồ từng điểm thể hiện điểm trung bình (GPA: grade point average) của 20 học viên trong lớp trên một trục và số giờ học của mỗi người trên trục kia. Một đường thẳng khớp vào các điểm rất có thể có độ dốc dương, cho thấy quan hệ dương tính giữa GPA và số giờ học. Ta có thể suy luận hợp lý rằng số giờ học là biến độc lập và GPA là biến phụ thuộc. Nhưng bạn đã có thể mắc lỗi nhân quả nghịch: bạn đã có thể suy luận rằng GPA cao sẽ khiến học viên học nhiều hơn, còn GPA thấp sẽ khiến học viên học ít hơn.

Hiểu cách mà đồ thị có thể làm lạc lối và bị diễn giải sai không đơn thuần mang tính hàn lâm. Các quyết định chính trị, quyết định kinh doanh, và lập luận chính trị thường dựa trên sự diễn giải các kiểu đồ thị số mà chúng tôi vừa đề cập. Vấn đề đặc trưng sai lạc trong xây dựng đồ thị, biến bị loại trừ, và nhân quả nghịch có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng và không mong muốn.

-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Tạo cơ sở dữ liệu dùng chung trong hệ thống ERP

PHÁT TRIỂN ERP BẰNG ACCESS - TẬP 1

2. Tạo cơ sở dữ liệu dùng chung trong hệ thống ERP


Đầu tiên ta tạo mới một thư mục (folder) dành cho dự án ERP, chẳng hạn trong ổ đĩa C và lấy tên BIS-ERP (BIS là viết tắt của Business Information Systems, tức Hệ thống Thông tin Kinh doanh).

Folder dành cho dự án ERP

Khi khởi động MS Access 2013, cửa sổ sau hiện ra.

Màn hình khởi động MS Access 2013

Khi nhấp vào khung Blank desktop database, thì cửa sổ dưới đây hiện ra, cho phép đặt tên và chọn đường dẫn lưu trữ cơ sở dữ liệu mà ta sẽ tạo ra.

Đặt tên và chọn đường dẫn lưu trữ cơ sở dữ liệu

Trong ô File Name, Access định sẵn tên cho cơ sở dữ liệu là Database1, ta đổi tên thành BIS-ERP, chọn đường dẫn lưu trữ là C:\BIS-ERP, rồi nhấp nút lệnh Create. Khi đó Access sẽ tạo cơ sở dữ liệu trống BIS-ERP.accdb với phần mở rộng là .accdb. Sau này, nếu file .accdb đã được đóng mà ta muốn mở lại thì chỉ cần nhấp kép (double-click) vào file đó.

Sau khi tạo xong cơ sở dữ liệu, Access sẽ mở một cửa sổ mới trong đó có sẵn một đối tượng bảng (table) là Table1. Tạm thời ta không dùng Table1 nên đóng nó lại bằng cách nhấp phải (right-click) vào thẻ bài (tab) của bảng, rồi nhấp Close.

Đóng Table1


Phát triển ERP bằng MS Access: ERP là gì?

1. ERP là gì?

ERP, Enterprise Resource Planning, tạm dịch Hệ thống Hoạch định Nguồn lực doanh nghiệp, là một hệ thống doanh nghiệp đa năng, được hình thành từ việc tích hợp nhiều phân hệ phần mềm lại với nhau, nhằm hỗ trợ các qui trình kinh doanh cơ bản trong nội bộ của một công ty. Hình dưới đây minh họa những thành phần chính của một hệ thống ERP.

Các thành phần chính của một hệ thống ERP
(Nguồn: Business Driven Technology, fifth edition)

Ta thấy rằng ở giữa hình là một cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối với các phân hệ phần mềm Tiếp thị và Bán hàng (Marketing and Sales), Mua hàng (Purchasing), Kế toán Tài chính (Accounting and Finance), Nguồn Nhân lực (Human Resources), Kho hàng (Inventory), và Sản xuất (Manufactoring).

Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải bán được hàng, vì vậy phân hệ phần mềm Bán hàng hết sức quan trọng, và đó là chủ đề của tập sách này. Bây giờ ta hãy bắt tay vào việc phát triển, trước tiên là tạo một cơ sở dữ liệu dùng chung. Công cụ hỗ trợ phát triển sẽ là MS Access 2013.

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Kiến thức phổ thông: Thuyết nữ quyền - Feminism

THUYẾT NỮ QUYỀN - FEMINISM

Thuyết nữ quyền là niềm tin cho rằng nữ cần bình quyền với nam. Cuộc vận động để đạt được điều này, gọi là phong trào phụ nữ, bắt nguồn từ cuối thế kỷ mười tám, khi nữ văn sĩ người Anh Mary Wollstonecraft xuất bản tác phẩm Một minh chứng về Quyền của Phụ nữ (1792). Vào thời đó, phụ nữ là công dân hạng hai, bị xem là tài sản của cha hay chồng và bị cấm hành nghề, học cao đẳng đại học, bầu cử hay ứng cử.

Để vận động chống lại bất bình đẳng, phụ nữ đã tự tổ chức và hội nghị đầu tiên đấu tranh cho nữ quyền đã được tổ chức tại Hoa Kỳ, ở Seneca Falls, New York, năm 1848. Nhiều người thấy rằng quyền bầu cử là bước đầu tiên, và đến cuối thế kỷ mười chín các hiệp hội đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã được thành lập ở nhiều nước. Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi các phương pháp hòa bình của họ đã bị che khuất bởi những phụ nữ cương quyết hơn, họ đập vỡ cửa sổ, tự sắp thành hàng rào chắn, và tiếp tục biểu tình đòi "quyền bầu cử cho nữ giới". Dần dần, các quốc gia đã trao quyền bầu cử cho phụ nữ: chẳng hạn, Anh và Đức năm 1918, Hoa Kỳ năm 1920, Pháp và Ý năm 1945.

Một làn sóng mới, "phong trào giải phóng phụ nữ" nảy sinh trong những năm 1960, giữa thời kỳ biến đổi xã hội sâu sắc ở nhiều nước phương Tây. Nhiều người được khích lệ bởi triết gia Pháp Simone de Beauvoir, bà lập luận trong tác phẩm Giới tính thứ hai (1949) rằng "Người ta không được sinh ra là một phụ nữ; người ta trở thành phụ nữ" - nghĩa là "nữ tính" không được quyết định về mặt sinh học, mà là kết quả của điều kiện văn hóa. Một tác phẩm quan trọng khác là Nữ tính Huyền bí (1963) của Betty Frieden.

Người theo thuyết nam nữ bình quyền kiểu mới thì vận động để được trả lương ngang bằng và có quyền tham gia xây dựng gia đình cũng như chăm sóc con cái, chống lại nạn phân biệt giới tính, và chống lại mọi hình thức áp bức bóc lột của nam giới, từ sách báo khiêu dâm cho đến bạo động trong nước. Mức độ thành công là tương đối, nhưng rõ ràng là đã có biến chuyển trong thái độ của nam giới đối với nữ giới và gia tăng khát vọng của phụ nữ - ít ra là trong tầng lớp trung lưu phương Tây.


-- Hình: http://oowomaniya.com/voices//wp-content/uploads/2014/05/20140522-one-does-not-born.png
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Kinh tế học căn bản: Các vấn đề khi diễn giải đồ thị số - Loại trừ một số biến

PHỤ LỤC CHƯƠNG 2: ĐỒ THỊ TRONG KINH TẾ HỌC

CÁC VẤN ĐỀ KHI DIỄN GIẢI ĐỒ THỊ SỐ: LOẠI TRỪ MỘT SỐ BIẾN

Từ sơ đồ từng điểm cho thấy hai biến di chuyển hoặc dương tính hoặc âm tính tương đối với nhau, ta dễ dàng kết luận là có quan hệ nhân quả. Nhưng quan hệ giữa hai biến không phải lúc nào cũng là quan hệ nhân quả trực tiếp. Có thể quan hệ giữa hai biến mà ta thấy là do biến thứ ba không được quan sát ảnh hưởng đến từng biến kia. Biến không được quan sát, qua đó ảnh hưởng đến các biến khác, tạo ra bề ngoài sai lầm về quan hệ nhân qua giữa các biến kia, được gọi là biến bị loại trừ (omitted variable). Chẳng hạn ở New England, lượng tuyết rơi nhiều hơn trong tuần khiến người dân mua nhiều xẻng xúc tuyết hơn. Điều đó cũng khiến người dân mua nước phóng băng nhiều hơn. Nhưng nếu bạn loại trừ ảnh hưởng của tuyết rơi và chỉ vẽ lượng xẻng xúc tuyết bán ra so với số chai nước phóng băng bán ra, bạn sẽ tạo ra sơ đồ từng điểm có chiều đi lên, cho thấy quan hệ dương tính giữa lượng xẻng xúc tuyết bán ra và số chai nước phóng băng bán ra. Tuy nhiên, quy về mối quan hệ nhân quả giữa hai biến này là sai lầm, nhiều xẻng xúc tuyết hơn không làm cho bán ra nhiều chai nước phóng băng hơn, hay ngược lại. Chúng đi cùng nhau vì cả hai đều bị ảnh hưởng bởi biến thứ ba đóng vai trò quyết định - đó là lượng tuyết rơi mà là biến bị loại trừ trong trường hợp này. Vì vậy trước khi giả định hình mẫu trong sơ đồ từng điểm là một quan hệ nhân quả, ta cần xem liệu hình mẫu đó có phải là kết quả của một biến bị loại trừ hay không. Nói tóm lại: tương quan khác với nhân quả.

(còn tiếp)

-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản