Những người cánh hữu, ngoài một vài theo chủ nghĩa tự do, rất coi trọng quyền lực. Họ tin rằng đây là chìa khóa để duy trì trật tự xã hội, từ đó bảo toàn quyền sở hữu tài sản và cho phép thị trường tự do vận hành hiệu quả. Một số người cánh hữu thấy có nhu cầu cân bằng quyền lực và quyền dân chủ, trong khi những người khác thiên về chính phủ độc đoán - cho dù đó là một quốc vương có quyền tuyệt đối hay một nhà độc tài.
Sau Cách mạng Pháp 1789 thì bất ổn theo sau, khiến các nhà tư tưởng cách hữu muốn bảo vệ quyền lực truyền thống. Triết gia vùng Savoyard, Joseph de Maistre (1754–1821) đã chỉ trích các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa thế tục và tự do thời Khai sáng về cuộc tắm máu, ông tranh luận để phục hồi quốc vương có quyền tuyệt đối và trở về quyền lực gia trưởng trong nhà nước cũng như gia đình. Ngoài ra, de Maistre tin rằng Giáo hội La Mã cần có một vị trí đặc quyền bên trong nhà nước, và tranh luận rằng đạo đức Thiên Chúa giáo cần được áp đặt qua luật. Kiểu tư duy chính trị thần quyền này đã được tán đồng trong nhiều chế độ khác nhau như Tây Ban Nha thời Franco và Iran do các thủ lĩnh Hồi giáo cao tuổi lãnh đạo.
Lý thuyết gia bảo thủ người Ireland Edmund Burke (1729–97), có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ, đã chỉ trích các nhà Cách mạng Pháp từ một quan điểm hơi khác. Ông tin rằng quyền lực xác lập là phương tiện qua đó phong tục và truyền thống được duy trì, nhờ đó cũng là phương tiện để sự thông thái và kinh nghiệm tích lũy của nhân loại được truyền cho các thế hệ tương lai. Burke tin rằng việc phá bỏ quyền lực sẽ đưa đến sự buông thả và hỗn loạn cực độ, từ đó dẫn đến độc tài.
Trong thời Chiến tranh Lạnh, các chế độ dân chủ - đặc biệt là Hoa Kỳ - đã phân biệt những chế độ mà họ xem là độc đảng, chẳng hạn Liên Xô và các đồng minh của Liên Xô, với những chế độ độc đoán thuần túy, chẳng hạn các chế độ độc tài quân sự cánh hữu. Loại thứ hai thường được ủng hộ, bất chấp vấn đề vi phạm nhân quyền, nếu họ được xem là thành trì chống lại chủ nghĩa cộng sản.
-- Hình: http://i2.wp.com/www.ff.org/wp-content/uploads/2013/08/Leadership-Authoritarian.jpg
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông
Ứng xử trong gia đình
- OOP
- JSF
- Essays
- Thuật ngữ Anh-Việt
- Kỹ năng mềm
- Đường thành công
- Hướng nghiệp
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nam
- 50 Phép Lịch Sự Cho Nữ
- Phép lịch sự trong gia đình
- Phép lịch sự nơi công cộng
- Phép lịch sự khi làm khách
- Kiến Thức Phổ Thông
- Kinh tế học căn bản
- Toán học trong vài phút
- Nhân liệu (Peopleware)
- Phát triển HTTT kế toán bằng MS Access
- Lập trình viên hạnh phúc
Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014
Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014
Nhân liệu (Peopleware): Tầng hầm vách nhựa đồng bộ
NHÂN LIỆU (PEOPLEWARE): CÁC DỰ ÁN VÀ ĐỘI NGŨ HIỆU QUẢ
7 CÔNG AN NỘI THẤT
TẦNG HẦM VÁCH NHỰA ĐỒNG BỘ
Để cảm nhận tốt hơn tư duy kiểu công an, hãy nhìn sơ đồ phòng ở Hình 7-1, giờ đây đang trở nên thông dụng trong các tổ chức trên toàn Hoa Kỳ.
Sơ đồ này trả lời tức khắc câu hỏi phức tạp là ai cần được ngồi gần cửa sổ (windows): không ai cả. Vấn đề với cửa sổ là không đủ cho mọi nhân viên. Nếu một số người được ngồi gần cửa sổ và những người khác không được, bằng quan sát đơn giản bạn có thể dễ dàng định vị chỗ làm việc của một người. Giờ đây ta không thể làm được điều đó, phải vậy không?
Nhưng hãy xét đến hiệu ứng lề. Đường di chuyển thường xuyên nhất, từ thang máy (elevator) đến một gian làm việc (cubicle) hay từ gian này đến gian khác, đều không đi ngang cửa sổ. Nơi nào sử dụng sơ đồ phòng như thế thì các cửa sổ hoàn toàn không được dùng; các hành lang (corridors) dọc theo cửa sổ lúc nào cũng vắng người. Đầu tiên chúng tôi bắt gặp sơ đồ hành lang cửa sổ là ở tầng 20 của một tòa nhà chọc trời mới xây - có những quang cảnh tuyệt đẹp mà hầu như chẳng ai được chiêm ngưỡng. Nhân viên làm việc trong tòa nhà đó như thể họ đang ở dưới tầng hầm.
Không gian trong tầng hầm thật sự được ưa chuộng dưới con mắt của phòng quản trị vật tư, vì bản thân tầng hầm dễ bố trí để đạt được sự đồng bộ. Nhưng nhân viên làm việc tốt hơn trong điều kiện ánh sáng tự nhiên. Họ cảm thấy tốt hơn nếu được làm việc gần cửa sổ và cảm giác đó sẽ trực tiếp làm cho chất lượng công việc cao hơn. Nhân viên không muốn làm việc trong môi trường tuyệt đối đồng bộ. Đây là vấn đề bất tiện điển hình thường xảy ra cho nhân viên.
Cũng như chúng tôi, nếu bạn đi thăm vài chục tổ chức mỗi năm, bạn sẽ nhanh chóng phát hiện rằng nhiều tổ chức gặp phải sự bất tiện này. Hầu như không có ngoại lệ, nơi làm việc của người trí óc ồn ào, dễ bị gián đoạn, không có riêng tư, và khô khan. Một số nơi đẹp hơn những nơi khác, nhưng về chức năng thì chẳng tốt hơn bao nhiêu. Không ai có thể làm việc thật hiệu quả ở đó. Nhân viên sẽ làm việc rất hiệu quả nếu họ được ở một nơi yên tĩnh với hai chiếc bàn dài và cho phép đóng cửa thay vì phải ngồi trong một gian được quây lại bởi những tấm nhựa. Chẳng ai quan tâm xem môi trường làm việc ảnh hưởng đến tính hiệu quả ra sao.
Tất cả các điều này có vẻ khá gay gắt với người chịu trách nhiệm bố trí không gian làm việc ở Hoa Kỳ. Nếu bạn nghĩ vậy, hãy xét một minh họa cuối cùng về tư duy của những người này. Nó quái dị đến nỗi bạn phải tự hỏi là tại sao có thể chấp nhận được tình trạng đó: công ty sử dụng hệ thống nhắn tin. Thật khó tin nhưng thật sự là một số công ty đã dùng hệ thống nhắn tin công cộng để gây gián đoạn công việc của hàng ngàn nhân viên đang dùng trí óc, chỉ để nhắn tin cho một người: BOONG! CHÚ Ý CHÚ Ý! ĐÂY LÀ TIN NHẮN GỬI ĐẾN ANH/CHỊ X. ANH/CHỊ X LÀM HƠN GỌI ĐẾN TRUNG TÂM NHẮN TIN. Nếu ở một vị trí thuận lợi, đôi khi bạn có thể thấy 30 hay 40 cái đầu ngẩng lên khi nghe tiếng boong đầu tiên rồi lịch sự lắng nghe hết lời thông báo, sau đó nhìn xuống và tự hỏi họ đang làm việc đến đâu rồi.
Người bố trí phòng ốc có tư duy kiểu công an sẽ thiết kế môi trường làm việc theo cách thiết kế nhà tù: có sức chứa tối đa với chi phí tối tiểu. Chúng tôi đầu hàng họ vô điều kiện khi bàn về chủ đề thiết kế nơi làm việc, nhưng với hầu hết các công ty gặp vấn đề về năng suất, chẳng có mảng nào đem lại nhiều thành quả cho bằng bố trí nơi làm việc. Chừng nào nhân viên còn phải làm ở nơi đông đúc, ồn ào, khô khan, và dễ gây gián đoạn, thì đừng cải thiệc việc gì khác ngoài vấn đề bố trí nơi làm việc.
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Tom DeMarco, Timothy Lister (2014) Nhân liệu (Peopleware): Các dự án và đội ngũ hiệu quả, xuất bản lần 3.
-- Bài được tập hợp tại Nhân liệu (Peopleware)
7 CÔNG AN NỘI THẤT
TẦNG HẦM VÁCH NHỰA ĐỒNG BỘ
Để cảm nhận tốt hơn tư duy kiểu công an, hãy nhìn sơ đồ phòng ở Hình 7-1, giờ đây đang trở nên thông dụng trong các tổ chức trên toàn Hoa Kỳ.
Hình 7-1: Sơ đồ văn phòng điển hình
Sơ đồ này trả lời tức khắc câu hỏi phức tạp là ai cần được ngồi gần cửa sổ (windows): không ai cả. Vấn đề với cửa sổ là không đủ cho mọi nhân viên. Nếu một số người được ngồi gần cửa sổ và những người khác không được, bằng quan sát đơn giản bạn có thể dễ dàng định vị chỗ làm việc của một người. Giờ đây ta không thể làm được điều đó, phải vậy không?
Nhưng hãy xét đến hiệu ứng lề. Đường di chuyển thường xuyên nhất, từ thang máy (elevator) đến một gian làm việc (cubicle) hay từ gian này đến gian khác, đều không đi ngang cửa sổ. Nơi nào sử dụng sơ đồ phòng như thế thì các cửa sổ hoàn toàn không được dùng; các hành lang (corridors) dọc theo cửa sổ lúc nào cũng vắng người. Đầu tiên chúng tôi bắt gặp sơ đồ hành lang cửa sổ là ở tầng 20 của một tòa nhà chọc trời mới xây - có những quang cảnh tuyệt đẹp mà hầu như chẳng ai được chiêm ngưỡng. Nhân viên làm việc trong tòa nhà đó như thể họ đang ở dưới tầng hầm.
Không gian trong tầng hầm thật sự được ưa chuộng dưới con mắt của phòng quản trị vật tư, vì bản thân tầng hầm dễ bố trí để đạt được sự đồng bộ. Nhưng nhân viên làm việc tốt hơn trong điều kiện ánh sáng tự nhiên. Họ cảm thấy tốt hơn nếu được làm việc gần cửa sổ và cảm giác đó sẽ trực tiếp làm cho chất lượng công việc cao hơn. Nhân viên không muốn làm việc trong môi trường tuyệt đối đồng bộ. Đây là vấn đề bất tiện điển hình thường xảy ra cho nhân viên.
Cũng như chúng tôi, nếu bạn đi thăm vài chục tổ chức mỗi năm, bạn sẽ nhanh chóng phát hiện rằng nhiều tổ chức gặp phải sự bất tiện này. Hầu như không có ngoại lệ, nơi làm việc của người trí óc ồn ào, dễ bị gián đoạn, không có riêng tư, và khô khan. Một số nơi đẹp hơn những nơi khác, nhưng về chức năng thì chẳng tốt hơn bao nhiêu. Không ai có thể làm việc thật hiệu quả ở đó. Nhân viên sẽ làm việc rất hiệu quả nếu họ được ở một nơi yên tĩnh với hai chiếc bàn dài và cho phép đóng cửa thay vì phải ngồi trong một gian được quây lại bởi những tấm nhựa. Chẳng ai quan tâm xem môi trường làm việc ảnh hưởng đến tính hiệu quả ra sao.
Tất cả các điều này có vẻ khá gay gắt với người chịu trách nhiệm bố trí không gian làm việc ở Hoa Kỳ. Nếu bạn nghĩ vậy, hãy xét một minh họa cuối cùng về tư duy của những người này. Nó quái dị đến nỗi bạn phải tự hỏi là tại sao có thể chấp nhận được tình trạng đó: công ty sử dụng hệ thống nhắn tin. Thật khó tin nhưng thật sự là một số công ty đã dùng hệ thống nhắn tin công cộng để gây gián đoạn công việc của hàng ngàn nhân viên đang dùng trí óc, chỉ để nhắn tin cho một người: BOONG! CHÚ Ý CHÚ Ý! ĐÂY LÀ TIN NHẮN GỬI ĐẾN ANH/CHỊ X. ANH/CHỊ X LÀM HƠN GỌI ĐẾN TRUNG TÂM NHẮN TIN. Nếu ở một vị trí thuận lợi, đôi khi bạn có thể thấy 30 hay 40 cái đầu ngẩng lên khi nghe tiếng boong đầu tiên rồi lịch sự lắng nghe hết lời thông báo, sau đó nhìn xuống và tự hỏi họ đang làm việc đến đâu rồi.
Người bố trí phòng ốc có tư duy kiểu công an sẽ thiết kế môi trường làm việc theo cách thiết kế nhà tù: có sức chứa tối đa với chi phí tối tiểu. Chúng tôi đầu hàng họ vô điều kiện khi bàn về chủ đề thiết kế nơi làm việc, nhưng với hầu hết các công ty gặp vấn đề về năng suất, chẳng có mảng nào đem lại nhiều thành quả cho bằng bố trí nơi làm việc. Chừng nào nhân viên còn phải làm ở nơi đông đúc, ồn ào, khô khan, và dễ gây gián đoạn, thì đừng cải thiệc việc gì khác ngoài vấn đề bố trí nơi làm việc.
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Tom DeMarco, Timothy Lister (2014) Nhân liệu (Peopleware): Các dự án và đội ngũ hiệu quả, xuất bản lần 3.
-- Bài được tập hợp tại Nhân liệu (Peopleware)
Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014
Kinh tế học căn bản: Lợi thế so sánh và lợi ích từ thương mại
CHƯƠNG 2: CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ: TƯƠNG NHƯỢNG VÀ THƯƠNG MẠI (TIẾP THEO)
LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LỢI ÍCH TỪ THƯƠNG MẠI
Trong 12 nguyên tắc kinh tế được trình bày ở Chương 1, nguyên tắc có lợi từ thương mại - tức lợi ích tương hỗ mà cá nhân có thể đạt được nhờ chuyên hóa trong việc sản xuất những thứ khác nhau và trao đổi với nhau. Minh họa thứ hai về một mô hình kinh tế là mô hình đặc biệt hữu ích về lợi ích từ thương mại - thương mại dựa trên lợi thế so sánh.
Một trong những tuệ giác quan trọng nhất của kinh tế học là có lợi từ thương mại - sẽ hợp lý khi sản xuất những thứ mà bạn đặc biệt giỏi và mua từ người khác những thứ mà bạn không giỏi sản xuất. Điều này sẽ đúng ngay cả khi bạn có thể tự mình sản xuất được mọi thứ: ngay cả khi bác sĩ phẫu thuật não tài giỏi có thể tự mình sửa vòi nước bị rò, rất có thể sẽ tốt hơn nếu gọi thợ sửa ống nước chuyên nghiệp.
Làm sao ta có thể mô hình lợi ích từ thương mại? Hãy tiếp tục bằng ví dụ máy bay và một lần nữa tưởng tượng rằng Hoa Kỳ là nền kinh tế một công ty và mọi người cùng làm việc cho Boeing để sản xuất máy bay. Tuy nhiên, giờ đây ta giả định rằng Hoa Kỳ có khả năng thương mại với Brazil - một nền kinh tế một công ty khác, ở đó mọi người làm việc cho công ty máy bay Embraer của Brazil. Ở ngoài đời, Embraer là nhà sản xuất máy bay nhỏ rất thành công. (Nếu bạn bay từ một thành phố lớn sang một thành phố lớn khác ở Hoa Kỳ, rất có thể máy bay của bạn là Boeing, nhưng nếu bạn bay đến một thành phố nhỏ, rất có thể máy bay của bạn là Embraer.)
Trong ví dụ của ta, chỉ có hai hàng hóa được sản xuất là máy bay lớn và máy bay nhỏ. Cả hai nước đều có thể sản xuất cả hai loại máy bay. Nhưng trong chốc lát ta sẽ thấy rằng họ có thể thu lợi bằng việc sản xuất những thứ khác nhau và trao đổi với nhau. Vì mục đích của ví dụ này, ta hãy trở về trường hợp đường biên khả năng sản xuất là một đường thẳng. Khả năng sản xuất của Hoa Kỳ được biểu diễn bởi đường biên khả năng sản xuất ở phần (a) Hình 2-4, tương tự với đường biên khả năng sản xuất ở Hình 2-1. Theo sơ đồ này, Hoa Kỳ có thể sản xuất 40 máy bay nhỏ nếu họ không sản xuất máy bay lớn nào và có thể sản xuất 30 máy bay lớn nếu họ không sản xuất máy bay nhỏ nào. Nhắc lại rằng điều này nghĩa là độ dốc của đường biên khả năng sản xuất của Hoa Kỳ sẽ bằng 3/4: Chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ bằng 3/4 máy bay lớn.
Phần (b) Hình 2-4 trình bày khả năng sản xuất của Brazil. Như Hoa Kỳ, đường biên khả năng sản xuất của Brazil là một đường thẳng, ngụ ý là chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ theo máy bay lớn là hằng số. Đường biên khả năng sản xuất của Brazil có độ dốc hằng là -1/3. Brazil không thể sản xuất nhiều bằng Hoa Kỳ: tối đa họ chỉ có thể sản xuất 30 máy bay nhỏ hay 10 máy bay lớn. Nhưng Brazil sản xuất máy bay nhỏ khá hơn Hoa Kỳ; trong khi Hoa Kỳ phải hy sinh 3/4 máy bay lớn cho mỗi máy bay nhỏ, chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ ở Brazil chỉ bằng 1/3 máy bay lớn. Bảng 2-1 tổng kết chi phí cơ hội của máy bay nhỏ và máy bay lớn ở hai quốc gia.
Bây giờ, Hoa Kỳ và Brazil từng nước đã có thể quyết định tự sản xuất cả máy bay nhỏ và lớn, không cần thương mại và chỉ tiêu thụ sản phẩm trong nước. Ta hãy giả định rằng hai nước bắt đầu theo cách này và tiêu thụ theo Hình 2-4: khi không có thương mại, Hoa Kỳ sản xuất và tiêu thụ 16 máy bay nhỏ cùng 18 máy bay lớn mỗi năm, trong khi Brazil sản xuất và tiêu thụ 6 máy bay nhỏ và 8 máy bay lớn mỗi năm.
Nhưng liệu đây là phương án tốt nhất mà cả hai nước có thể làm? Không phải vậy. Với dữ liệu đã cho là hai nhà sản xuất - và vì thế hai quốc gia - có chi phí cơ hội khác nhau, Hoa Kỳ và Brazil có thể thỏa thuận để cả hai được khấm khá hơn.
Bảng 2-2 thể hiện một thỏa thuận đó: Hoa Kỳ chuyên sản xuất máy bay lớn, cho ra 30 chiếc một năm, và bán 10 chiếc cho Brazil. Trong khi đó, Brazil chuyên sản xuất máy bay nhỏ, cho ra 30 chiếc một năm và bán 20 chiếc cho Hoa Kỳ. Kết quả được trình bày ở Hình 2-5. Giờ đây Hoa Kỳ tiêu thụ cả máy bay nhỏ và lớn nhiều hơn trước đây: thay vì 16 chiếc nhỏ và 18 chiếc lớn, bây giờ họ tiêu thụ 20 chiếc nhỏ và 20 chiếc lớn. Brazil cũng tiêu thụ nhiều hơn, từ 6 chiếc nhỏ và 8 chiếc lớn sang 10 chiếc nhỏ và 10 chiếc lớn. Bảng 2-2 còn cho thấy cả Hoa Kỳ và Brazil đều thu lợi từ thương mại, tiêu thụ cả hai loại máy bay nhiều hơn thời điểm không có thương mại.
Cả hai nước đều khấm khá hơn nếu mỗi nước chuyên vào lĩnh vực mà họ giỏi rồi thương mại. Thật là ý tưởng hay nếu Hoa Kỳ chuyên sản xuất máy bay lớn vì chi phí cơ hội của máy bay lớn bên họ thấp hơn Brazil: 4/3 < 3. Về phía kia, Brazil nên chuyên sản xuất máy bay nhỏ vì chi phí cơ hội của máy bay nhỏ bên họ thấp hơn Hoa Kỳ: 1/3 < 3.
Điều ta có thể nói trong trường hợp này là Hoa Kỳ có lợi thế so sánh trong sản xuất máy bay lớn và Brazil có lợi thế so sánh trong sản xuất máy bay nhỏ. Một nước có lợi thế so sánh (comparative advantage) trong sản xuất thứ gì nếu chi phí cơ hội của sản xuất thứ đó thấp hơn các nước khác. Khái niệm đó áp dụng cho cả công ty và con người: một công ty hay một cá nhân có lợi thế so sánh trong sản xuất thứ gì nếu chi phí cơ hội của sản xuất thứ đó của họ thấp hơn các nơi khác.
Một điểm cần làm rõ trước khi ta đi tiếp. Bạn đã có thể tự hỏi vì sao Hoa Kỳ lại đổi 10 máy bay lớn cho Brazil để nhận về 20 máy bay nhỏ. Tại sao không phải là thỏa thuận khác, chẳng hạn đổi 10 chiếc lớn lấy 12 chiếc nhỏ? Câu trả lời cho câu hỏi này gồm hai phần. Thứ nhất, thật ra thì có những cách thương mại khác mà Hoa Kỳ và Brazil có thể đồng ý. Thứ hai, có những thỏa thuận mà ta có thể loại trừ ngay - chẳng hạn đổi 10 chiếc lớn lấy 10 chiếc nhỏ.
Để hiểu lý do tại sao, hãy xem lại Bảng 2-1 và trước tiên xét Hoa Kỳ. Nếu không thương mại với Brazil, chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ ở Hoa Kỳ là 3/4 máy bay lớn. Như vậy rõ ràng là Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận thương mại nào khiến họ phải hy sinh nhiều hơn 3/4 máy bay lớn để được một máy bay nhỏ. Việc đổi 10 chiếc lớn để lấy 12 chiếc nhỏ đòi hỏi Hoa Kỳ phải trả chi phí cơ hội là 10/12 = 5/6 máy bay lớn để được một máy bay nhỏ. Vì 5/6 > 3/4, đây là thỏa thuận mà Hoa Kỳ sẽ từ chối. Tương tự, Brazil sẽ không chấp nhận thương mại nào khiến họ nhận ít hơn 1/3 máy bay lớn cho một máy bay nhỏ.
Điểm cần nhớ là Hoa Kỳ và Brazil chỉ muốn thương mại nếu "giá" hàng hóa mà mỗi nước nhận được khi thương mại sẽ thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất hàng hóa đó trong nước. Hơn nữa, khẳng định tổng quát này luôn luôn đúng khi hai bên - quốc gia, công ty, hay cá nhân - tự nguyện thương mại.
Trong khi câu chuyện của ta rõ ràng đã đơn giản hóa thực tế, câu chuyện này dạy ta một số bài học hết sức quan trọng để áp dụng vào nền kinh tế thực tế.
Thứ nhất, mô hình minh họa rõ ràng về lợi ích từ thương mại: qua chuyên hóa và thương mại: hai nước đều sản xuất nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn so với trường hợp tự cung tự cấp.
Thứ hai, mô hình minh họa một điểm hết sức quan trọng thường bị xem nhẹ khi lập luận trong thực tế: mỗi nước có một lợi thế so sánh trong việc sản xuất điều gì đó. Điểm này áp dụng cho cả công ty lẫn con người: mọi người đều có lợi thế so sánh trong điều gì đó, và mọi người đều có bất lợi so sánh trong điều gì đó.
Quan trọng là trong ví dụ của ta, sẽ không thành vấn đề, ngay cả trong thực tế, nếu công nhân Hoa Kỳ giỏi bằng hay thậm chí giỏi hơn công nhân Brazil về sản xuất máy bay nhỏ. Giả sử công nhân Hoa Kỳ giỏi hơn công nhân Brazil về sản xuất máy bay lớn lẫn nhỏ: trong một giờ, một công nhân Hoa Kỳ có thể sản xuất máy bay lớn lẫn nhỏ nhiều hơn một công nhân Brazil. Bạn có xu hướng nghĩ rằng trong trường hợp đó Hoa Kỳ chẳng có lợi gì từ thương mại với Brazil kém năng suất hơn.
Nhưng chúng ta vừa thấy rằng thật ra Hoa Kỳ có thể hưởng lợi từ thương mại với Brazil vì lợi thế so sánh, chứ không phải lợi thế tuyệt đối, là cơ sở của lợi ích tương hỗ. Sẽ không thành vấn đề cho dù Brazil phải tiêu tốn nhiều tài nguyên hơn Hoa Kỳ khi sản xuất một máy bay nhỏ; điều quan trọng đối với thương mại cho Brazil là chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ thì thấp hơn chi phí cơ hội ở Hoa Kỳ. Vì vậy cho dù bị bất lợi tuyệt đối, Brazil có lợi thế so sánh khi sản xuất máy bay nhỏ. Trong khi đó, Hoa Kỳ, vốn có thể dùng tài nguyên một cách hiệu quả nhất qua sản xuất máy bay lớn, lại có bất lợi so sánh khi sản xuất máy bay nhỏ.
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản
LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LỢI ÍCH TỪ THƯƠNG MẠI
Trong 12 nguyên tắc kinh tế được trình bày ở Chương 1, nguyên tắc có lợi từ thương mại - tức lợi ích tương hỗ mà cá nhân có thể đạt được nhờ chuyên hóa trong việc sản xuất những thứ khác nhau và trao đổi với nhau. Minh họa thứ hai về một mô hình kinh tế là mô hình đặc biệt hữu ích về lợi ích từ thương mại - thương mại dựa trên lợi thế so sánh.
Một trong những tuệ giác quan trọng nhất của kinh tế học là có lợi từ thương mại - sẽ hợp lý khi sản xuất những thứ mà bạn đặc biệt giỏi và mua từ người khác những thứ mà bạn không giỏi sản xuất. Điều này sẽ đúng ngay cả khi bạn có thể tự mình sản xuất được mọi thứ: ngay cả khi bác sĩ phẫu thuật não tài giỏi có thể tự mình sửa vòi nước bị rò, rất có thể sẽ tốt hơn nếu gọi thợ sửa ống nước chuyên nghiệp.
Làm sao ta có thể mô hình lợi ích từ thương mại? Hãy tiếp tục bằng ví dụ máy bay và một lần nữa tưởng tượng rằng Hoa Kỳ là nền kinh tế một công ty và mọi người cùng làm việc cho Boeing để sản xuất máy bay. Tuy nhiên, giờ đây ta giả định rằng Hoa Kỳ có khả năng thương mại với Brazil - một nền kinh tế một công ty khác, ở đó mọi người làm việc cho công ty máy bay Embraer của Brazil. Ở ngoài đời, Embraer là nhà sản xuất máy bay nhỏ rất thành công. (Nếu bạn bay từ một thành phố lớn sang một thành phố lớn khác ở Hoa Kỳ, rất có thể máy bay của bạn là Boeing, nhưng nếu bạn bay đến một thành phố nhỏ, rất có thể máy bay của bạn là Embraer.)
Trong ví dụ của ta, chỉ có hai hàng hóa được sản xuất là máy bay lớn và máy bay nhỏ. Cả hai nước đều có thể sản xuất cả hai loại máy bay. Nhưng trong chốc lát ta sẽ thấy rằng họ có thể thu lợi bằng việc sản xuất những thứ khác nhau và trao đổi với nhau. Vì mục đích của ví dụ này, ta hãy trở về trường hợp đường biên khả năng sản xuất là một đường thẳng. Khả năng sản xuất của Hoa Kỳ được biểu diễn bởi đường biên khả năng sản xuất ở phần (a) Hình 2-4, tương tự với đường biên khả năng sản xuất ở Hình 2-1. Theo sơ đồ này, Hoa Kỳ có thể sản xuất 40 máy bay nhỏ nếu họ không sản xuất máy bay lớn nào và có thể sản xuất 30 máy bay lớn nếu họ không sản xuất máy bay nhỏ nào. Nhắc lại rằng điều này nghĩa là độ dốc của đường biên khả năng sản xuất của Hoa Kỳ sẽ bằng 3/4: Chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ bằng 3/4 máy bay lớn.
Hình 2-4: Khả năng sản xuất của hai quốc gia
Phần (b) Hình 2-4 trình bày khả năng sản xuất của Brazil. Như Hoa Kỳ, đường biên khả năng sản xuất của Brazil là một đường thẳng, ngụ ý là chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ theo máy bay lớn là hằng số. Đường biên khả năng sản xuất của Brazil có độ dốc hằng là -1/3. Brazil không thể sản xuất nhiều bằng Hoa Kỳ: tối đa họ chỉ có thể sản xuất 30 máy bay nhỏ hay 10 máy bay lớn. Nhưng Brazil sản xuất máy bay nhỏ khá hơn Hoa Kỳ; trong khi Hoa Kỳ phải hy sinh 3/4 máy bay lớn cho mỗi máy bay nhỏ, chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ ở Brazil chỉ bằng 1/3 máy bay lớn. Bảng 2-1 tổng kết chi phí cơ hội của máy bay nhỏ và máy bay lớn ở hai quốc gia.
Bảng 2-1: Chi phí cơ hội của máy bay nhỏ và máy bay lớn ở Hoa Kỳ và Brazil
Bây giờ, Hoa Kỳ và Brazil từng nước đã có thể quyết định tự sản xuất cả máy bay nhỏ và lớn, không cần thương mại và chỉ tiêu thụ sản phẩm trong nước. Ta hãy giả định rằng hai nước bắt đầu theo cách này và tiêu thụ theo Hình 2-4: khi không có thương mại, Hoa Kỳ sản xuất và tiêu thụ 16 máy bay nhỏ cùng 18 máy bay lớn mỗi năm, trong khi Brazil sản xuất và tiêu thụ 6 máy bay nhỏ và 8 máy bay lớn mỗi năm.
Nhưng liệu đây là phương án tốt nhất mà cả hai nước có thể làm? Không phải vậy. Với dữ liệu đã cho là hai nhà sản xuất - và vì thế hai quốc gia - có chi phí cơ hội khác nhau, Hoa Kỳ và Brazil có thể thỏa thuận để cả hai được khấm khá hơn.
Bảng 2-2 thể hiện một thỏa thuận đó: Hoa Kỳ chuyên sản xuất máy bay lớn, cho ra 30 chiếc một năm, và bán 10 chiếc cho Brazil. Trong khi đó, Brazil chuyên sản xuất máy bay nhỏ, cho ra 30 chiếc một năm và bán 20 chiếc cho Hoa Kỳ. Kết quả được trình bày ở Hình 2-5. Giờ đây Hoa Kỳ tiêu thụ cả máy bay nhỏ và lớn nhiều hơn trước đây: thay vì 16 chiếc nhỏ và 18 chiếc lớn, bây giờ họ tiêu thụ 20 chiếc nhỏ và 20 chiếc lớn. Brazil cũng tiêu thụ nhiều hơn, từ 6 chiếc nhỏ và 8 chiếc lớn sang 10 chiếc nhỏ và 10 chiếc lớn. Bảng 2-2 còn cho thấy cả Hoa Kỳ và Brazil đều thu lợi từ thương mại, tiêu thụ cả hai loại máy bay nhiều hơn thời điểm không có thương mại.
Bảng 2-2: Cách để Hoa Kỳ và Brazil có lợi từ thương mại
Hình 2-5: Lợi thế cạnh tranh và lợi ích từ thương mại
Cả hai nước đều khấm khá hơn nếu mỗi nước chuyên vào lĩnh vực mà họ giỏi rồi thương mại. Thật là ý tưởng hay nếu Hoa Kỳ chuyên sản xuất máy bay lớn vì chi phí cơ hội của máy bay lớn bên họ thấp hơn Brazil: 4/3 < 3. Về phía kia, Brazil nên chuyên sản xuất máy bay nhỏ vì chi phí cơ hội của máy bay nhỏ bên họ thấp hơn Hoa Kỳ: 1/3 < 3.
Điều ta có thể nói trong trường hợp này là Hoa Kỳ có lợi thế so sánh trong sản xuất máy bay lớn và Brazil có lợi thế so sánh trong sản xuất máy bay nhỏ. Một nước có lợi thế so sánh (comparative advantage) trong sản xuất thứ gì nếu chi phí cơ hội của sản xuất thứ đó thấp hơn các nước khác. Khái niệm đó áp dụng cho cả công ty và con người: một công ty hay một cá nhân có lợi thế so sánh trong sản xuất thứ gì nếu chi phí cơ hội của sản xuất thứ đó của họ thấp hơn các nơi khác.
Một điểm cần làm rõ trước khi ta đi tiếp. Bạn đã có thể tự hỏi vì sao Hoa Kỳ lại đổi 10 máy bay lớn cho Brazil để nhận về 20 máy bay nhỏ. Tại sao không phải là thỏa thuận khác, chẳng hạn đổi 10 chiếc lớn lấy 12 chiếc nhỏ? Câu trả lời cho câu hỏi này gồm hai phần. Thứ nhất, thật ra thì có những cách thương mại khác mà Hoa Kỳ và Brazil có thể đồng ý. Thứ hai, có những thỏa thuận mà ta có thể loại trừ ngay - chẳng hạn đổi 10 chiếc lớn lấy 10 chiếc nhỏ.
Để hiểu lý do tại sao, hãy xem lại Bảng 2-1 và trước tiên xét Hoa Kỳ. Nếu không thương mại với Brazil, chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ ở Hoa Kỳ là 3/4 máy bay lớn. Như vậy rõ ràng là Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận thương mại nào khiến họ phải hy sinh nhiều hơn 3/4 máy bay lớn để được một máy bay nhỏ. Việc đổi 10 chiếc lớn để lấy 12 chiếc nhỏ đòi hỏi Hoa Kỳ phải trả chi phí cơ hội là 10/12 = 5/6 máy bay lớn để được một máy bay nhỏ. Vì 5/6 > 3/4, đây là thỏa thuận mà Hoa Kỳ sẽ từ chối. Tương tự, Brazil sẽ không chấp nhận thương mại nào khiến họ nhận ít hơn 1/3 máy bay lớn cho một máy bay nhỏ.
Điểm cần nhớ là Hoa Kỳ và Brazil chỉ muốn thương mại nếu "giá" hàng hóa mà mỗi nước nhận được khi thương mại sẽ thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất hàng hóa đó trong nước. Hơn nữa, khẳng định tổng quát này luôn luôn đúng khi hai bên - quốc gia, công ty, hay cá nhân - tự nguyện thương mại.
Trong khi câu chuyện của ta rõ ràng đã đơn giản hóa thực tế, câu chuyện này dạy ta một số bài học hết sức quan trọng để áp dụng vào nền kinh tế thực tế.
Thứ nhất, mô hình minh họa rõ ràng về lợi ích từ thương mại: qua chuyên hóa và thương mại: hai nước đều sản xuất nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn so với trường hợp tự cung tự cấp.
Thứ hai, mô hình minh họa một điểm hết sức quan trọng thường bị xem nhẹ khi lập luận trong thực tế: mỗi nước có một lợi thế so sánh trong việc sản xuất điều gì đó. Điểm này áp dụng cho cả công ty lẫn con người: mọi người đều có lợi thế so sánh trong điều gì đó, và mọi người đều có bất lợi so sánh trong điều gì đó.
Quan trọng là trong ví dụ của ta, sẽ không thành vấn đề, ngay cả trong thực tế, nếu công nhân Hoa Kỳ giỏi bằng hay thậm chí giỏi hơn công nhân Brazil về sản xuất máy bay nhỏ. Giả sử công nhân Hoa Kỳ giỏi hơn công nhân Brazil về sản xuất máy bay lớn lẫn nhỏ: trong một giờ, một công nhân Hoa Kỳ có thể sản xuất máy bay lớn lẫn nhỏ nhiều hơn một công nhân Brazil. Bạn có xu hướng nghĩ rằng trong trường hợp đó Hoa Kỳ chẳng có lợi gì từ thương mại với Brazil kém năng suất hơn.
Nhưng chúng ta vừa thấy rằng thật ra Hoa Kỳ có thể hưởng lợi từ thương mại với Brazil vì lợi thế so sánh, chứ không phải lợi thế tuyệt đối, là cơ sở của lợi ích tương hỗ. Sẽ không thành vấn đề cho dù Brazil phải tiêu tốn nhiều tài nguyên hơn Hoa Kỳ khi sản xuất một máy bay nhỏ; điều quan trọng đối với thương mại cho Brazil là chi phí cơ hội của một máy bay nhỏ thì thấp hơn chi phí cơ hội ở Hoa Kỳ. Vì vậy cho dù bị bất lợi tuyệt đối, Brazil có lợi thế so sánh khi sản xuất máy bay nhỏ. Trong khi đó, Hoa Kỳ, vốn có thể dùng tài nguyên một cách hiệu quả nhất qua sản xuất máy bay lớn, lại có bất lợi so sánh khi sản xuất máy bay nhỏ.
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản
Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014
Kiến thức phổ thông: Lỗi phân loại - Category Errors
Nhiều triết gia đã cố gắng tạo ra danh sách những phân loại cơ bản để chứa các vật và khái niệm. Những phân loại đó phải tối giản tức không còn phân loại nào đơn giản hơn. Chẳng hạn, Aristotle đã đề ra một sách gồm 10 phân loại, trong đó có chất liệu, số lượng, chất lượng, và quan hệ. Triết gia Đức Immanuel Kant đưa ra 12 phân loại, trong đó có thời gian, không gian, đồ vật, tính chất, một, nhiều, đó là các cấu trúc cơ bản qua đó tâm thức nhận thức thực tại.
Mặc dù chẳng có danh sách phân loại cơ bản nào được nhiều triết gia thừa nhận rộng rãi, nói chung thì họ đồng ý rằng sẽ mắc lỗi khi trình bày điều gì thuộc một phân loại như thể nó thuộc về một phân loại khác, hay gán cho một thứ thuộc phân loại này một thuộc tính mà chỉ có thể thuộc về một phân loại khác. Chẳng hạn, sẽ vô nghĩa nếu cho rằng mùi vị thuộc loại âm nhạc, hay cảm xúc thuộc loại đất đá - dĩ nhiên trừ phi điều đó có tính ẩn dụ. Suy cho cùng, thơ văn chứa đầy ngôn ngữ hình tượng mà sẽ vô nghĩa theo nghĩa đen. Chúng ta ai cũng hiểu Wordsworth ngụ ý gì khi viết "Tim tôi nhảy ra ngoài khi thấy cầu vồng xuất hiện trên bầu trời," mặc dù ta biết rằng tim ông vẫn nằm yên trong lồng ngực.
Bỏ qua yếu tố thơ văn, nhiều vấn đề và khó khăn hiển nhiên trong tranh luận trí tuệ có thể bị phê phán là đã mắc lỗi phân loại. Khái niệm này được triết gia người Anh Gilbert Ryle giới thiệu trong tác phẩm Khái niệm về Tâm thức (1949). Ở đó, Rye đưa ra ví dụ về một vị khách đến thăm đại học Oxford. Ông được đưa đi tham quan các khoa, thư viện, ..., sau đó ông hỏi "Nhưng trường đại học thì ở đâu?"
Rồi Rye chỉ trích tiính đối ngẫu của René Descartes - trong đó thân và tâm được xem là hai chất liệu khác nhau, một bên là vật chất, bên kia phi vật chất - là một lỗi phân loại. Rye tranh luận rằng sẽ mắc lỗi nếu gán nhãn "chất liệu" vào tâm thức. Ông khẳng định rằng tâm thức chẳng qua là hành vi thông minh của thân.
-- Hình: http://www.press.uchicago.edu/dms/ucp/books/jacket/0226/73/0226732959.gif
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông
Mặc dù chẳng có danh sách phân loại cơ bản nào được nhiều triết gia thừa nhận rộng rãi, nói chung thì họ đồng ý rằng sẽ mắc lỗi khi trình bày điều gì thuộc một phân loại như thể nó thuộc về một phân loại khác, hay gán cho một thứ thuộc phân loại này một thuộc tính mà chỉ có thể thuộc về một phân loại khác. Chẳng hạn, sẽ vô nghĩa nếu cho rằng mùi vị thuộc loại âm nhạc, hay cảm xúc thuộc loại đất đá - dĩ nhiên trừ phi điều đó có tính ẩn dụ. Suy cho cùng, thơ văn chứa đầy ngôn ngữ hình tượng mà sẽ vô nghĩa theo nghĩa đen. Chúng ta ai cũng hiểu Wordsworth ngụ ý gì khi viết "Tim tôi nhảy ra ngoài khi thấy cầu vồng xuất hiện trên bầu trời," mặc dù ta biết rằng tim ông vẫn nằm yên trong lồng ngực.
Bỏ qua yếu tố thơ văn, nhiều vấn đề và khó khăn hiển nhiên trong tranh luận trí tuệ có thể bị phê phán là đã mắc lỗi phân loại. Khái niệm này được triết gia người Anh Gilbert Ryle giới thiệu trong tác phẩm Khái niệm về Tâm thức (1949). Ở đó, Rye đưa ra ví dụ về một vị khách đến thăm đại học Oxford. Ông được đưa đi tham quan các khoa, thư viện, ..., sau đó ông hỏi "Nhưng trường đại học thì ở đâu?"
Rồi Rye chỉ trích tiính đối ngẫu của René Descartes - trong đó thân và tâm được xem là hai chất liệu khác nhau, một bên là vật chất, bên kia phi vật chất - là một lỗi phân loại. Rye tranh luận rằng sẽ mắc lỗi nếu gán nhãn "chất liệu" vào tâm thức. Ông khẳng định rằng tâm thức chẳng qua là hành vi thông minh của thân.
-- Hình: http://www.press.uchicago.edu/dms/ucp/books/jacket/0226/73/0226732959.gif
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông
Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014
Nhân liệu (Peopleware): Tư duy kiểu công an
7 CÔNG AN NỘI THẤT
TƯ DUY KIỂU CÔNG AN
Trưởng Phòng Quản trị vật tư là đồng nghiệp đi kiểm tra nơi làm việc một ngày trước khi nhân viên của bạn dọn vào, trong đầu họ có những suy nghĩ tựa như : "Hãy xem mọi thứ đều đồng bộ đẹp đẽ thế này! Không ai có thể nhận ra được là họ đang ở tầng năm hay tầng sáu. Nhưng một khi bọn họ dọn vào, mọi thứ sẽ bị hủy hoại. Họ sẽ treo tranh và biến không gian của họ có cá tính, rồi sẽ bề bộn cho coi. Họ có thể uống cà phê trên mặt sàn đáng yêu và thậm chí còn ăn trưa ngay tại đây (rùng mình). Trời ạ, ..." Đây là người ban hành những qui định phải giữ bàn làm việc sạch sẽ và cấm treo bất cứ thứ gì ngoại trừ lịch làm việc của công ty. Nhân viên quản trị vật tư mà chúng tôi biết thậm chí còn dán vào mọi điện thoại số gọi khẩn cấp khi xảy ra tình huống làm đổ cà phê. Chúng tôi đã chẳng bao giờ còn ở đó khi có ai bấm số, nhưng bạn có thể đoán rằng đội ngũ bảo trì mặc áo trắng sẽ chạy đến lau dọn trên một xe điện có đèn nhấp nháy hụ còi inh ỏi.
--------------------------------------------------
Trong lúc nghỉ giải lao tại một hội thảo, một đồng nghiệp bảo tôi rằng công ty của anh không cho phép để lại bất kỳ thứ gì trên bàn khi ra về ngoại trừ một tấm ảnh gia đình kích cỡ 10 x 15. Nếu còn để thứ gì khác thì sáng hôm sau bạn sẽ thấy một thông báo khó chịu dán vào màn hình của phòng quản trị vật tư. Một nhân viên dị ứng với những thông báo này đến nỗi anh không thể kìm nén nỗi tức giận. Hiểu cảm xúc của anh, các đồng nghiệp đã đùa anh như sau: Họ mua một khung ảnh từ cửa hàng bán đồng giá với ảnh mẫu về một gia đình Hoa Kỳ. Rồi họ thay ảnh đó vào ảnh của gia đình anh. Dưới khung ảnh là một thông báo trông giống như thông báo từ phòng quản trị vật tư, nói rằng vì gia đình anh không sắp vị trí đúng theo chuẩn công ty, nên công ty cấp một "ảnh gia đình đúng chuẩn công ty" để anh sử dụng.
-- TRL
--------------------------------------------------
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Tom DeMarco, Timothy Lister (2014) Nhân liệu (Peopleware): Các dự án và đội ngũ hiệu quả, xuất bản lần 3.
-- Bài được tập hợp tại Nhân liệu (Peopleware)
TƯ DUY KIỂU CÔNG AN
Trưởng Phòng Quản trị vật tư là đồng nghiệp đi kiểm tra nơi làm việc một ngày trước khi nhân viên của bạn dọn vào, trong đầu họ có những suy nghĩ tựa như : "Hãy xem mọi thứ đều đồng bộ đẹp đẽ thế này! Không ai có thể nhận ra được là họ đang ở tầng năm hay tầng sáu. Nhưng một khi bọn họ dọn vào, mọi thứ sẽ bị hủy hoại. Họ sẽ treo tranh và biến không gian của họ có cá tính, rồi sẽ bề bộn cho coi. Họ có thể uống cà phê trên mặt sàn đáng yêu và thậm chí còn ăn trưa ngay tại đây (rùng mình). Trời ạ, ..." Đây là người ban hành những qui định phải giữ bàn làm việc sạch sẽ và cấm treo bất cứ thứ gì ngoại trừ lịch làm việc của công ty. Nhân viên quản trị vật tư mà chúng tôi biết thậm chí còn dán vào mọi điện thoại số gọi khẩn cấp khi xảy ra tình huống làm đổ cà phê. Chúng tôi đã chẳng bao giờ còn ở đó khi có ai bấm số, nhưng bạn có thể đoán rằng đội ngũ bảo trì mặc áo trắng sẽ chạy đến lau dọn trên một xe điện có đèn nhấp nháy hụ còi inh ỏi.
--------------------------------------------------
Trong lúc nghỉ giải lao tại một hội thảo, một đồng nghiệp bảo tôi rằng công ty của anh không cho phép để lại bất kỳ thứ gì trên bàn khi ra về ngoại trừ một tấm ảnh gia đình kích cỡ 10 x 15. Nếu còn để thứ gì khác thì sáng hôm sau bạn sẽ thấy một thông báo khó chịu dán vào màn hình của phòng quản trị vật tư. Một nhân viên dị ứng với những thông báo này đến nỗi anh không thể kìm nén nỗi tức giận. Hiểu cảm xúc của anh, các đồng nghiệp đã đùa anh như sau: Họ mua một khung ảnh từ cửa hàng bán đồng giá với ảnh mẫu về một gia đình Hoa Kỳ. Rồi họ thay ảnh đó vào ảnh của gia đình anh. Dưới khung ảnh là một thông báo trông giống như thông báo từ phòng quản trị vật tư, nói rằng vì gia đình anh không sắp vị trí đúng theo chuẩn công ty, nên công ty cấp một "ảnh gia đình đúng chuẩn công ty" để anh sử dụng.
-- TRL
--------------------------------------------------
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Tom DeMarco, Timothy Lister (2014) Nhân liệu (Peopleware): Các dự án và đội ngũ hiệu quả, xuất bản lần 3.
-- Bài được tập hợp tại Nhân liệu (Peopleware)
Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014
Kinh tế học căn bản: Tăng trưởng kinh tế
CHƯƠNG 2: CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ: TƯƠNG NHƯỢNG VÀ THƯƠNG MẠI (TIẾP THEO)
TƯƠNG NHƯỢNG: ĐƯỜNG BIÊN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Cuối cùng, đường biên khả năng sản xuất giúp ta hiểu ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế (economic growth). Khái niệm tăng trưởng kinh tế đã được giới thiệu ở Chương 1, định nghĩa là khả năng tăng trưởng của nền kinh tế để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Nhưng có thật sự chính đáng không khi ta nói rằng nền kinh tế đã tăng trưởng theo thời gian? Suy cho cùng, mặc dù nền kinh tế Hoa Kỳ sản xuất nhiều thứ hơn cách đây một thế kỷ, nó sản xuất ít hơn những thứ khác - chẳng hạn xe ngựa kéo. Nói cách khác, việc sản xuất của nhiều hàng hóa thực sự giảm. Vậy làm thế nào ta có thể nói rằng nền kinh tế trên tổng thể đã tăng trưởng?
Câu trả lời được minh họa ở Hình 2-3, ở đó vẽ ra hai đường biên khả năng sản xuất giả định của nền kinh tế. Trong đó ta giả định một lần nữa rằng mọi người trong nền kinh tế đều làm việc cho Boeing và tất nhiên nền kinh tế này chỉ sản xuất hai sản phẩm là Dreamliners và máy bay nhỏ. Hãy để ý cách mà hai đường cong lồng nhau, một đường được gán nhãn là "Original PPF", tức "PPF ban đầu", nằm hoàn toàn bên trong đường được gán nhãn là "New PPF", tức "PPF mới". Giờ đây về đồ họa ta có thể thấy được ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng nghĩa là mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế; tức nền kinh tế có thể sản xuất mọi thứ nhiều hơn. Chẳng hạn, nếu ban đầu nền kinh tế sản xuất tại điểm A (25 Dreamliners và 20 máy bay nhỏ), tăng trưởng kinh tế nghĩa là nền kinh tế đã có thể chuyển đến điểm E (30 Dreamliners và 25 máy bay nhỏ). E nằm ngoài đường biên ban đầu; vì vậy trong mô hình đường biên khả năng sản xuất, tăng trưởng được thể hiện là sự dịch chuyển ra ngoài đườn biên.
Điều gì có thể khiến đường biên khả năng sản xuất dịch chuyển ra ngoài? Về cơ bản có hai nguồn tăng trưởng kinh tế. Nguồn thứ nhất là sự gia tăng các nhân tố sản xuất (factor of production) của nền kinh tế. Nhà kinh tế thường dùng thuật ngữ nhân tố sản xuất để ám chỉ một tài nguyên mà không được dùng đến cạn kiệt trong sản xuất. Chẳng hạn, trong sản xuất máy bay truyền thống công nhân đã dùng máy tán đinh để nối các tấm thép khi sản xuất thân máy bay; công nhân và máy tán đinh là những nhân tố sản xuất, nhưng đinh tán và tấm thép thì không. Một khi thân máy bay được tạo ra, công nhân và máy tán đinh có thể được dùng để sản xuất một thân máy bay khác, nhưng tấm thép và đinh tán được dùng để sản xuất một thân máy bay rồi thì không thể được dùng để sản xuất một thân máy bay khác.
Nói chung, các nhân tố sản xuất chính là các tài nguyên - gồm đất đai, sức lao động, vốn vật lý, và vốn con người. Đất đai là tài nguyên được thiên nhiên cung ứng; sức lao động là đội ngũ công nhân trong nền kinh tế; vốn vật lý là các tài nguyên nhân tạo chẳng hạn máy móc và nhà xưởng; vốn con người là những thành quả giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động nhằm gia tăng năng suất. Dĩ nhiên, từng thứ này là một loại thay vì một nhân tố đơn nhất: đất ở North Dakota thì khác xa với đất ở Florida.
Để thấy làm thế nào mà việc bổ sung các nhân tố sản xuất đưa đến tăng trưởng kinh tế, giả sử rằng Boeing xây dựng thêm một nhà chứa để cho phép họ gia tăng số lượng máy bay - máy bay nhỏ hay Dreamliners hay cả hai - mà họ có thể sản xuất trong một năm. Nhà chứa mới là một nhân tố sản xuất, một tài nguyên Boeing có thể dùng để tăng sản lượng hàng năm của họ. Ta không thể nói rõ sẽ có thêm bao nhiêu máy bay mỗi loại mà Boeing sản xuất; đó là một quyết định quản lý phụ thuộc, cùng những thứ khác, vào nhu cầu khách hàng. Nhưng ta có thể nói rằng đường biên khả năng sản xuất của Boeing đã dịch chuyển ra ngoài vì giờ đây họ có thể sản xuất nhiều máy bay nhỏ hơn mà không giảm số lượng Dreamliners, hay họ có thể sản xuất nhiều Dreamliners hơn mà không giảm số lượng máy bay nhỏ.
Nguồn tăng trưởng kinh tế thứ hai là tiến bộ công nghệ (technology), tức phương tiện kỹ thuật để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Vật liệu composite đã được dùng trong một số bộ phận máy bay trước khi Boeing phát triển Dreamliner. Nhưng các kỹ sư Boeing đã nhận ra rằng sẽ có nhiều ưu điểm nếu sản xuất toàn bộ máy bay từ composites. Máy bay sẽ nhẹ hơn, cứng cáp hơn, và có khí động lực học tốt hơn máy bay được sản xuất theo cách truyền thống. Vì thế máy bay sẽ có tầm bay xa hơn, có khả năng chuyên chở nhiều hành khách hơn, và dùng ít nhiên liệu hơn; ngoài khả năng duy trì áp lực khoang hành khách cao hơn. Vì vậy trên thực tế, đổi mới của Boeing - toàn bộ máy bay được sản xuất từ composites - là một cách làm ra nhiều hơn với nguồn tài nguyên đã cho, đẩy đường biên khả năng sản xuất ra ngoài.
Vì công nghệ máy bay cải tiến đã đẩy đường biên khả năng sản xuất ra ngoài, nó có thể khiến nền kinh tế sản xuất mọi thứ nhiều hơn, không chỉ máy bay và du lịch hàng không. Hơn 30 năm qua, các tiến bộ công nghệ to lớn nhất đã xảy ra trong công nghệ thông tin, không phải trong xây dựng và dịch vụ ăn uống. Nhưng người Mỹ đã chọn mua nhà to hơn và ăn nhiều hơn trước vì tăng trưởng kinh tế đã khiến điều đó khả thi.
Đường biên khả năng sản xuất là một mô hình nền kinh tế hết sức đơn giản. Nhưng nó dạy ta những bài học quan trọng về nền kinh tế ngoài đời. Nó cho ta cảm nhận ban đầu rõ ràng về điều gì cấu thành hiệu quả kinh tế, nó minh họa chi phí cơ hội, và nó làm rõ ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế.
(Còn tiếp)
-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản
TƯƠNG NHƯỢNG: ĐƯỜNG BIÊN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Cuối cùng, đường biên khả năng sản xuất giúp ta hiểu ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế (economic growth). Khái niệm tăng trưởng kinh tế đã được giới thiệu ở Chương 1, định nghĩa là khả năng tăng trưởng của nền kinh tế để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Nhưng có thật sự chính đáng không khi ta nói rằng nền kinh tế đã tăng trưởng theo thời gian? Suy cho cùng, mặc dù nền kinh tế Hoa Kỳ sản xuất nhiều thứ hơn cách đây một thế kỷ, nó sản xuất ít hơn những thứ khác - chẳng hạn xe ngựa kéo. Nói cách khác, việc sản xuất của nhiều hàng hóa thực sự giảm. Vậy làm thế nào ta có thể nói rằng nền kinh tế trên tổng thể đã tăng trưởng?
Câu trả lời được minh họa ở Hình 2-3, ở đó vẽ ra hai đường biên khả năng sản xuất giả định của nền kinh tế. Trong đó ta giả định một lần nữa rằng mọi người trong nền kinh tế đều làm việc cho Boeing và tất nhiên nền kinh tế này chỉ sản xuất hai sản phẩm là Dreamliners và máy bay nhỏ. Hãy để ý cách mà hai đường cong lồng nhau, một đường được gán nhãn là "Original PPF", tức "PPF ban đầu", nằm hoàn toàn bên trong đường được gán nhãn là "New PPF", tức "PPF mới". Giờ đây về đồ họa ta có thể thấy được ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng nghĩa là mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế; tức nền kinh tế có thể sản xuất mọi thứ nhiều hơn. Chẳng hạn, nếu ban đầu nền kinh tế sản xuất tại điểm A (25 Dreamliners và 20 máy bay nhỏ), tăng trưởng kinh tế nghĩa là nền kinh tế đã có thể chuyển đến điểm E (30 Dreamliners và 25 máy bay nhỏ). E nằm ngoài đường biên ban đầu; vì vậy trong mô hình đường biên khả năng sản xuất, tăng trưởng được thể hiện là sự dịch chuyển ra ngoài đườn biên.
Điều gì có thể khiến đường biên khả năng sản xuất dịch chuyển ra ngoài? Về cơ bản có hai nguồn tăng trưởng kinh tế. Nguồn thứ nhất là sự gia tăng các nhân tố sản xuất (factor of production) của nền kinh tế. Nhà kinh tế thường dùng thuật ngữ nhân tố sản xuất để ám chỉ một tài nguyên mà không được dùng đến cạn kiệt trong sản xuất. Chẳng hạn, trong sản xuất máy bay truyền thống công nhân đã dùng máy tán đinh để nối các tấm thép khi sản xuất thân máy bay; công nhân và máy tán đinh là những nhân tố sản xuất, nhưng đinh tán và tấm thép thì không. Một khi thân máy bay được tạo ra, công nhân và máy tán đinh có thể được dùng để sản xuất một thân máy bay khác, nhưng tấm thép và đinh tán được dùng để sản xuất một thân máy bay rồi thì không thể được dùng để sản xuất một thân máy bay khác.
Nói chung, các nhân tố sản xuất chính là các tài nguyên - gồm đất đai, sức lao động, vốn vật lý, và vốn con người. Đất đai là tài nguyên được thiên nhiên cung ứng; sức lao động là đội ngũ công nhân trong nền kinh tế; vốn vật lý là các tài nguyên nhân tạo chẳng hạn máy móc và nhà xưởng; vốn con người là những thành quả giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động nhằm gia tăng năng suất. Dĩ nhiên, từng thứ này là một loại thay vì một nhân tố đơn nhất: đất ở North Dakota thì khác xa với đất ở Florida.
Để thấy làm thế nào mà việc bổ sung các nhân tố sản xuất đưa đến tăng trưởng kinh tế, giả sử rằng Boeing xây dựng thêm một nhà chứa để cho phép họ gia tăng số lượng máy bay - máy bay nhỏ hay Dreamliners hay cả hai - mà họ có thể sản xuất trong một năm. Nhà chứa mới là một nhân tố sản xuất, một tài nguyên Boeing có thể dùng để tăng sản lượng hàng năm của họ. Ta không thể nói rõ sẽ có thêm bao nhiêu máy bay mỗi loại mà Boeing sản xuất; đó là một quyết định quản lý phụ thuộc, cùng những thứ khác, vào nhu cầu khách hàng. Nhưng ta có thể nói rằng đường biên khả năng sản xuất của Boeing đã dịch chuyển ra ngoài vì giờ đây họ có thể sản xuất nhiều máy bay nhỏ hơn mà không giảm số lượng Dreamliners, hay họ có thể sản xuất nhiều Dreamliners hơn mà không giảm số lượng máy bay nhỏ.
Nguồn tăng trưởng kinh tế thứ hai là tiến bộ công nghệ (technology), tức phương tiện kỹ thuật để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Vật liệu composite đã được dùng trong một số bộ phận máy bay trước khi Boeing phát triển Dreamliner. Nhưng các kỹ sư Boeing đã nhận ra rằng sẽ có nhiều ưu điểm nếu sản xuất toàn bộ máy bay từ composites. Máy bay sẽ nhẹ hơn, cứng cáp hơn, và có khí động lực học tốt hơn máy bay được sản xuất theo cách truyền thống. Vì thế máy bay sẽ có tầm bay xa hơn, có khả năng chuyên chở nhiều hành khách hơn, và dùng ít nhiên liệu hơn; ngoài khả năng duy trì áp lực khoang hành khách cao hơn. Vì vậy trên thực tế, đổi mới của Boeing - toàn bộ máy bay được sản xuất từ composites - là một cách làm ra nhiều hơn với nguồn tài nguyên đã cho, đẩy đường biên khả năng sản xuất ra ngoài.
Vì công nghệ máy bay cải tiến đã đẩy đường biên khả năng sản xuất ra ngoài, nó có thể khiến nền kinh tế sản xuất mọi thứ nhiều hơn, không chỉ máy bay và du lịch hàng không. Hơn 30 năm qua, các tiến bộ công nghệ to lớn nhất đã xảy ra trong công nghệ thông tin, không phải trong xây dựng và dịch vụ ăn uống. Nhưng người Mỹ đã chọn mua nhà to hơn và ăn nhiều hơn trước vì tăng trưởng kinh tế đã khiến điều đó khả thi.
Đường biên khả năng sản xuất là một mô hình nền kinh tế hết sức đơn giản. Nhưng nó dạy ta những bài học quan trọng về nền kinh tế ngoài đời. Nó cho ta cảm nhận ban đầu rõ ràng về điều gì cấu thành hiệu quả kinh tế, nó minh họa chi phí cơ hội, và nó làm rõ ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế.
(Còn tiếp)
Hình 2-3: Tăng trưởng kinh tế
-- Nguồn: Paul Krugman (Nobel kinh tế 2008), Robin Wells, Kathryn Graddy (2014) Kinh tế học căn bản, tái bản lần ba.
-- Bài được tập hợp tại Kinh tế học căn bản
Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014
Kiến thức phổ thông: Đẳng cấp - Hierarchy
Đẳng cấp là một trong những giá trị chính yếu của người theo chủ nghĩa truyền thống và cánh hữu bảo thủ. Họ có khuynh hướng duy trì chế độ quân chủ và tầng lớp quý tộc, cũng như nguyên tắc thừa kế về cả tài sản cũng địa vị từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trái lại, người theo chủ nghĩa tự do kinh tế, cũng thuộc cánh hữu, bác bỏ đặc quyền thừa kế chính trị nhưng tán đồng quyền thừa kế tài sản.
Nói chung, cánh hữu tin rằng con người thực chất là không bình đẳng. Vì thế họ nghi ngờ chủ nghĩa quân bình, họ xem đó là kết quả tất yếu của tình trạng kéo xuống cho ngang bằng thay vì phải nâng lên cho bằng. Họ có thể củng cố quan điểm này bằng những lập luận từ thuyết Darwin xã hội, trong đó "cái thích nghi tốt nhất sẽ sống còn" được xem là mô hình xã hội "tự nhiên". Một số còn khẳng định rằng có những khác biệt sinh học nội tại giữa các giới tính và giữa các chủng tộc về những vấn đề như trí tuệ và địa vị, những lập luận này đã được dùng để biện minh cho các chính sách từ phân biệt đối xử cho đến diệt chủng.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông
Nói chung, cánh hữu tin rằng con người thực chất là không bình đẳng. Vì thế họ nghi ngờ chủ nghĩa quân bình, họ xem đó là kết quả tất yếu của tình trạng kéo xuống cho ngang bằng thay vì phải nâng lên cho bằng. Họ có thể củng cố quan điểm này bằng những lập luận từ thuyết Darwin xã hội, trong đó "cái thích nghi tốt nhất sẽ sống còn" được xem là mô hình xã hội "tự nhiên". Một số còn khẳng định rằng có những khác biệt sinh học nội tại giữa các giới tính và giữa các chủng tộc về những vấn đề như trí tuệ và địa vị, những lập luận này đã được dùng để biện minh cho các chính sách từ phân biệt đối xử cho đến diệt chủng.
-- Nguồn: Ian Crofton (2013) Tóm lược các tư tưởng lớn: 200 khái niệm làm thay đổi thế giới được diễn giải tức thì, Quercus.
-- Bài được tập hợp tại Kiến thức phổ thông
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








